Quan Âm Thị Kính là một trong những vở chèo cổ quen thuộc nhất: chuyện người phụ nữ hiền lành chịu hai lần oan, một lần bị nghi giết chồng, một lần bị đổ là cha đứa trẻ khi đang giả trai tu ở chùa, rồi chết mới được biết sự thật. Vở xoay quanh hai vai nữ đối lập, Thị Kính đào thương và Thị Mầu đào lệch, cùng một loạt vai hề sắc sảo.
Tích Quan Âm Thị Kính vốn có bản truyện thơ Nôm cùng tên, và sân khấu chèo dựng thành vở theo lối riêng. Bài này tóm tích vừa đủ để hiểu vở, giới thiệu từng nhân vật, rồi đi vào những lớp diễn được biểu diễn tách riêng nhiều nhất. Phần tích kể theo dòng chính phổ biến; các phường, các đoàn có thể dựng khác nhau ở chi tiết.
Tóm tích vở chèo
Thị Kính là con gái nhà Mãng ông, được gả cho Thiện Sĩ, con nhà họ Sùng. Một đêm Thiện Sĩ ngủ bên vợ đang ngồi khâu, Thị Kính thấy chồng có một sợi râu mọc ngược, bèn cầm dao nhỏ định xén đi. Thiện Sĩ giật mình tỉnh dậy, tưởng vợ định hại mình, kêu lên. Cha mẹ chồng không nghe giải thích, kết tội Thị Kính mưu giết chồng và đuổi về nhà cha đẻ.
Không muốn làm khổ cha, Thị Kính cải trang làm con trai, vào chùa xin tu, được đặt pháp danh là Kính Tâm. Ở làng có Thị Mầu, con gái nhà phú ông, tính lẳng lơ, lên chùa thấy chú tiểu đẹp trai thì ve vãn. Kính Tâm một mực từ chối. Thị Mầu về sau có mang với người đầy tớ trong nhà, đến khi làng bắt vạ thì khai là con của tiểu Kính Tâm.
Kính Tâm không thể nói mình là gái, đành nhận oan, bị đuổi ra ở cổng tam quan. Thị Mầu đem đứa trẻ bỏ lại, Kính Tâm nhận nuôi, đi xin sữa từng nhà. Mấy năm sau Kính Tâm kiệt sức qua đời, để lại thư cho cha và cho đứa con nuôi. Đến khi khâm liệm, người ta mới biết tiểu Kính Tâm là phụ nữ, và oan khuất được giải. Phần kết của vở gắn Thị Kính với hình tượng Quan Âm, như tên vở.
Hệ nhân vật và vai chèo tương ứng
Vở Quan Âm Thị Kính hay được dùng để dạy hệ vai chèo vì gần như đủ các loại vai. Bảng dưới xếp nhân vật chính theo vai mà các đoàn thường giao.
| Nhân vật | Vai chèo | Nét chính trên sân khấu |
|---|---|---|
| Thị Kính (Kính Tâm) | Đào thương (nữ chín) | Hiền, nhẫn nhịn, động tác kín đáo, giọng hát buồn |
| Thị Mầu | Đào lệch | Lẳng lơ, táo bạo, liếc mắt, múa quạt, hát nhanh và tình tứ |
| Thiện Sĩ | Kép (nam chín) | Thư sinh nhu nhược, không dám bênh vợ |
| Sùng bà | Mụ ác | Mẹ chồng khắc nghiệt, giọng chì chiết |
| Mãng ông | Lão | Người cha thương con mà bất lực |
| Xã trưởng, Mẹ Đốp | Hề | Cặp hề phơi bày thói hống hách và tham của chức dịch làng |
| Nô (người đầy tớ) | Hề hoặc vai phụ | Người ở nhà phú ông, cha thật của đứa trẻ |
Cách giao vai có thể khác nhau giữa các đoàn, nhất là với vai phụ. Điều gần như cố định là cặp đối lập Thị Kính – Thị Mầu, vì toàn bộ sức hút của vở nằm ở sự trái ngược đó.
Lớp "Nỗi oan hại chồng": vì sao người xem thương Thị Kính
Lớp diễn đêm khâu áo, xén râu và bị kết tội là đoạn mở đầu bi kịch, quen thuộc với nhiều thế hệ học sinh qua sách giáo khoa Ngữ văn với tên gọi "Nỗi oan hại chồng". Đoạn này không có hành động gì lớn: một người vợ ngồi khâu, một sợi râu, một con dao nhỏ. Sức nặng của lớp diễn nằm ở chỗ chuyện cỏn con bị đẩy thành tội tày trời chỉ vì người trong nhà không chịu nghe.
Người đóng Thị Kính phải diễn được cái nhẫn mà không nhạt. Thị Kính không cãi to, không phản kháng, chỉ van xin và giãi bày bằng những câu hát buồn. Khán giả sân đình xưa thường xúc động ở chính chỗ này, vì họ thấy trong đó thân phận người con dâu trong gia đình phong kiến, nơi lời của mẹ chồng gần như là phán quyết.
Đối diện Thị Kính là Sùng bà, vai mụ ác. Một Sùng bà diễn tốt làm người xem ghét đến mức có khi buông lời mắng ngay dưới chiếu. Phản ứng ấy, với nghệ nhân chèo, là lời khen: nhân vật đã sống.
Lớp "Thị Mầu lên chùa": đào lệch nổi tiếng nhất của chèo
Nếu chỉ chọn một lớp chèo để biểu diễn tách riêng, nhiều đoàn sẽ chọn lớp Thị Mầu lên chùa. Thị Mầu là vai đào lệch điển hình: con gái nhà giàu, tự do, nói thẳng điều mình muốn, ve vãn chú tiểu ngay trong chùa bằng những câu hát và những cái liếc mắt táo bạo. Trên chiếu chèo, Thị Mầu vừa đáng chê vừa đáng xem.
Cái hay của lớp diễn là sự tương phản liên tục. Thị Mầu tiến, Kính Tâm lùi; Thị Mầu hát nhanh, ngắt nhịp tinh nghịch, Kính Tâm đáp bằng lời khuyên đứng đắn. Người đóng Thị Mầu phải giỏi cả hát, múa quạt lẫn diễn mắt, vì phần lớn tiếng cười và sự hồi hộp đến từ nét mặt và dáng đi.
Thị Mầu cũng là nhân vật được bàn luận nhiều nhất trong giới nghiên cứu. Có cách nhìn coi Thị Mầu là hình ảnh người phụ nữ dám sống theo cảm xúc, đi ngược khuôn phép thời đó; có cách nhìn nhấn vào việc Thị Mầu đổ oan cho người vô tội. Sân khấu chèo không bắt người xem chọn một bên, và đó là lý do vai này được diễn lại qua nhiều thế hệ với nhiều sắc thái khác nhau.
Lớp "Xã trưởng – Mẹ Đốp" và tiếng cười giữa bi kịch
Hề chen vào giữa chuyện buồn. Khi làng xử vụ Thị Mầu có mang, sân khấu chuyển sang cặp hề Xã trưởng và Mẹ Đốp, người mõ làng. Đây là lối kết cấu quen thuộc của chèo: giữa hai đoạn nặng nề, hề ra làm người xem cười, rồi câu chuyện mới tiếp tục.
Tiếng cười có đối tượng. Xã trưởng là chức dịch hách dịch, tham lam, lại có ý tán tỉnh Thị Mầu. Mẹ Đốp ở vị trí thấp nhất trong làng nhưng lại là người nói những câu châm chọc sắc nhất. Tiếng cười ở đây nhắm vào kẻ có quyền, đúng tinh thần hề chèo.
Ứng tác trong khuôn. Lớp hề cho người diễn nhiều chỗ ứng tác, thêm câu đùa hợp với làng nơi đang diễn. Nhưng dàn ý của lớp vẫn được giữ, để câu chuyện chính không bị lệch.
Một lớp hay được diễn riêng. Vì ngắn, vui và dễ hiểu, lớp này thường xuất hiện trong các chương trình trích đoạn, kể cả ở những buổi diễn cho học sinh.
Lớp Kính Tâm nuôi con và phần kết
Đoạn Kính Tâm ôm đứa trẻ đi xin sữa là phần trầm nhất của vở. Lời hát ở đây chậm, buồn, nhiều lời ru. Người xem biết đứa trẻ không phải con Kính Tâm, biết Kính Tâm là phụ nữ, nên mỗi lần nhân vật nhẫn nhịn chịu tiếng là một lần khán giả đau thay.
Phần kết, khi sự thật được biết, có nhiều cách dựng. Có bản kết bằng cảnh Thị Kính hiện lên như Quan Âm, có bản dừng ở lá thư để lại và sự ân hận của những người từng đổ oan. Bạn nên coi phần kết như lớp mang màu sắc tín ngưỡng của câu chuyện dân gian, được sân khấu kể lại, không phải một lời giảng về giáo lý. Ai muốn tìm hiểu về Quan Âm trong Phật giáo nên tìm đọc sách của nhà chùa hoặc hỏi các vị tu hành.
Nhìn cả vở, Quan Âm Thị Kính là một chuỗi oan: oan vì một hiểu lầm trong nhà, oan vì lời đổ vấy của người khác, và chỉ được giải khi người chịu oan đã không còn. Chèo cổ ít khi có kết cục vui vẻ đơn giản; người xem ra về mang theo câu hỏi về lẽ công bằng.
Gợi ý xem vở hoặc trích đoạn cho có chiều sâu
Vở đủ dài thì hiếm khi được diễn trọn, phần lớn khán giả gặp Quan Âm Thị Kính qua trích đoạn. Vài gợi ý để xem có chiều sâu hơn:
- Đọc tóm tích trước khi xem để không phải đoán nhân vật, rồi tập trung vào cách diễn.
- Xem lớp Thị Mầu lên chùa qua hai, ba bản do người khác nhau đóng để thấy mỗi người xử lý vai đào lệch một kiểu.
- Để ý vai hề: những câu đùa ứng tác thường nói nhiều về nơi diễn và thời điểm diễn.
- Nếu dẫn trẻ em đi xem, giải thích trước rằng đây là chuyện xưa về sự oan ức, để các em không chỉ nhớ những đoạn vui.
- Đối chiếu với truyện thơ Nôm cùng tên nếu bạn làm bài nghiên cứu; sân khấu và truyện thơ có chỗ khác nhau đáng bàn.
Một điều nhỏ mà hữu ích: ngồi gần nếu có thể. Chèo là nghệ thuật của nét mặt, của cái liếc mắt và những thay đổi rất khẽ trong giọng hát. Ngồi quá xa, bạn chỉ nghe được câu chuyện mà bỏ lỡ phần lớn cái hay của người diễn.
Quan Âm Thị Kính trên sân khấu hôm nay
Ngày nay vở được diễn ở cả sân khấu nhà hát lẫn sân đình, dưới dạng vở trọn hoặc chương trình trích đoạn. Các bản dựng nhà hát thường rút gọn, thêm phông cảnh, ánh sáng và có dàn nhạc đầy đủ hơn; các buổi diễn ở làng giữ lối chiếu chèo gần với ngày trước, ít cảnh trí, để người diễn tự tạo không gian bằng động tác.
Với người học chèo, các vai trong Quan Âm Thị Kính gần như là bài tập bắt buộc. Diễn viên trẻ học hát, học múa qua lớp Thị Mầu lên chùa, học cách giữ nội tâm qua lớp Nỗi oan hại chồng, học ứng tác qua lớp Xã trưởng – Mẹ Đốp. Bởi vậy cùng một lớp diễn, bạn có thể gặp những phiên bản rất khác nhau tùy người đóng.
Vở cũng thường được đưa vào chương trình giới thiệu chèo cho học sinh, sinh viên và khách nước ngoài, vì câu chuyện rõ ràng, nhân vật dễ nhận và có đủ cả bi lẫn hài. Điều nên giữ khi giới thiệu là không biến vở thành câu chuyện đạo đức một chiều; cái hay của chèo cổ nằm ở chỗ nó để người xem tự nghĩ.
Câu hỏi thường gặp
Quan Âm Thị Kính là vở chèo hay truyện thơ?
Cả hai. Có truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính, và sân khấu chèo dựng thành vở cùng tên với những lớp diễn riêng. Chi tiết giữa truyện thơ và các bản dựng chèo có chỗ khác nhau, các đoàn cũng dựng không hoàn toàn giống nhau.
Vì sao Thị Kính bị đuổi khỏi nhà chồng?
Vì khi thấy chồng có sợi râu mọc ngược, Thị Kính cầm dao nhỏ định xén đi, chồng tỉnh dậy tưởng bị hại. Cha mẹ chồng không nghe giải thích, kết tội nàng mưu giết chồng và trả về nhà cha đẻ.
Thị Mầu thuộc loại vai gì trong chèo?
Thị Mầu là vai đào lệch, loại vai nữ lẳng lơ, táo bạo, nhiều động tác liếc mắt, múa quạt và lối hát tình tứ. Đây là một trong những vai đào lệch nổi tiếng nhất, đối lập hẳn với vai đào thương Thị Kính.
Mẹ Đốp là ai trong vở?
Mẹ Đốp là người mõ làng, cùng Xã trưởng tạo thành cặp hề trong lớp làng xử vụ Thị Mầu có mang. Lớp này đem lại tiếng cười châm biếm thói hống hách, tham lam của chức dịch làng.
Đứa con trong vở là con ai?
Theo tích, đứa trẻ là con của Thị Mầu với người đầy tớ trong nhà. Thị Mầu khai là con tiểu Kính Tâm, rồi đem bỏ lại cho Kính Tâm. Kính Tâm nhận nuôi và đi xin sữa từng nhà.
Vở này có phải bài giảng Phật giáo không?
Không nên hiểu như vậy. Đây là câu chuyện dân gian mang màu sắc tín ngưỡng, được sân khấu chèo kể lại. Muốn tìm hiểu giáo lý về Quan Âm, bạn nên đọc sách của nhà chùa hoặc hỏi các vị tu hành.