Nhóm Oán trong 20 bài tổ gồm bốn bài, trong đó Tứ đại oán là bài quen thuộc nhất; hơi Oán thường được người trong nghề xem là nét riêng của nhạc tài tử Nam Bộ, nghe buồn, nhớ, có lúc như than trách. Ba bài còn lại của nhóm được ghi không hoàn toàn giống nhau giữa các tài liệu; những tên hay gặp có Phụng hoàng, Giang Nam, Phụng cầu.
Bài này nói về hơi Oán ở góc người nghe: nó khác hơi Ai thế nào, vì sao người ta bảo hơi Oán "khó ra", Tứ đại oán có chỗ đứng gì trong lịch sử đờn ca và sân khấu, và tại sao khi nghe vọng cổ, nhiều người lại nhắc tới hơi Oán. Phần ngón đàn chi tiết thuộc về lớp học với người đờn, không đi sâu ở đây.
Hơi Oán khác hơi Ai ở đâu
Cả hơi Ai lẫn hơi Oán đều buồn, nên người mới nghe dễ lẫn. Khác biệt nằm ở chất của nỗi buồn. Hơi Ai là buồn thương, chia ly, khóc than; hơi Oán là buồn nhớ, ấm ức, có màu sắc than trách, trách phận, trách người. Hơi Ai nghe như nước mắt rơi; hơi Oán nghe như một tiếng thở dài kéo dài, nén lại mà không dứt.
Về mặt âm thanh, hơi Oán có một số nốt được nhấn và rung rất đặc biệt, cao độ không đứng yên ở một chỗ mà như lơ lửng giữa hai cao độ quen tai. Đây là chỗ người đờn lâu năm hay nói hơi Oán "khó ra": đờn đúng nốt theo ký âm mà không nhấn đúng độ thì bài nghe phẳng, mất hồn. Người nghe không cần biết nốt nào được nhấn; chỉ cần để ý là ở bài Oán, có những chỗ tiếng đàn như bị kéo căng rồi buông.
Trong cách hệ thống hoá hay được trích dẫn, các hơi của nhạc tài tử chia thành hai hệ: hệ Bắc gồm hơi Bắc, Hạ, Nhạc, Quảng; hệ Nam gồm hơi Xuân, Ai, Đảo, Oán. Hơi Oán vì vậy là anh em với hơi Ai trong hệ Nam, nhưng mang màu sắc riêng mà nhiều người cho là sản phẩm của chính đất Nam Bộ, hình thành khi nhạc từ miền Trung đi vào và hoà với giọng nói, tâm tình của người khai hoang.
Tứ đại oán: bài quen nhất của nhóm
Vị trí trong nhóm. Tứ đại oán là bài được đờn và ca nhiều nhất trong nhóm Oán, cũng là bài người học thường gặp đầu tiên khi bước vào hơi Oán. Với nhiều người nghe, nói tới hơi Oán là nghĩ ngay tới Tứ đại oán.
Tên gọi. Chữ "tứ đại" thường được hiểu theo nghĩa bốn đời, bốn lớp, gợi một nỗi oán than kéo dài; tuy vậy cách giải thích tên bài có nhiều dị bản. Người đọc nên coi các câu chuyện về nguồn gốc tên bài là chuyện truyền miệng trong giới đờn, chưa có tài liệu nào chốt hẳn.
Lời ca. Tứ đại oán có nhiều lời đặt khác nhau qua các thế hệ. Một bộ lời quen thuộc được nhiều tài liệu nhắc là lời kể chuyện nhân vật Bùi Kiệm, Nguyệt Nga lấy từ truyện thơ Lục Vân Tiên, gắn với lối ca ra bộ thời kỳ đầu. Lời ca thay đổi được, nhưng khung giai điệu và hơi thì giữ.
Trên sân khấu. Khi đờn ca tài tử đi lên sân khấu, Tứ đại oán là một trong những bài được dùng cho các đoạn nhân vật tâm sự, nhớ nhung, trách móc. Người xem cải lương lâu năm nghe vài câu là nhận ra bài và hiểu cảnh đang chuyển sang buồn.
Với người học. Thầy dạy thường không cho học trò vào hơi Oán quá sớm, vì cần tai đã quen hơi Bắc và hơi Nam để cảm được độ nhấn. Học Tứ đại oán là một bước "lên lớp" trong quá trình học đờn.
Nhóm Oán và những bài hay nhắc
Bảng dưới gom các bài thường được kể trong nhóm Oán. Vì tài liệu ghi khác nhau, cột cuối nói rõ mức chắc chắn để bạn biết chỗ nào cần đối chiếu thêm.
| Bài | Tính chất hay được tả | Nơi thường nghe | Mức thống nhất giữa tài liệu |
|---|---|---|---|
| Tứ đại oán | Buồn nhớ, than trách, hơi Oán đặc trưng | Cuộc đờn ca, sân khấu cải lương | Có mặt trong hầu hết danh sách |
| Phụng hoàng | Buồn, trang trọng, câu nhạc dài | Chủ yếu cuộc đờn ca | Hay được kể, tuỳ tài liệu |
| Giang Nam | Buồn nhớ, dàn trải | Cuộc đờn ca | Hay được kể, có tài liệu ghi tên dài hơn |
| Phụng cầu | Buồn, mềm | Cuộc đờn ca | Có tài liệu kể, có tài liệu thay bằng bài khác |
Sự khác nhau giữa các danh sách không có nghĩa là có ai sai. Hệ bài tổ hình thành qua truyền khẩu, mỗi dòng thầy giữ một cách xếp; khi được ghi lại thành sách thì mỗi tác giả theo dòng mình học. Khi đọc một tài liệu, bạn nên xem tác giả học từ đâu, dạy ở vùng nào.
Hơi Oán và vọng cổ
Rất nhiều người nghe đã quen hơi Oán qua vọng cổ mà không biết. Bản Dạ cổ hoài lang, tiền thân của vọng cổ, thường được xếp vào hơi Oán, và vọng cổ về sau vẫn giữ nhiều chỗ nhấn rung của hơi này. Khi một câu vọng cổ ngân dài rồi buông xuống, cái cảm giác nghèn nghẹn mà khán giả cải lương thích chính là chất Oán.
Tuy vậy, vọng cổ không đứng yên trong một hơi. Qua nhiều thế hệ, người ca và người đờn đã cho vọng cổ chuyển hơi linh hoạt: có câu sáng lên, có câu trầm xuống, tuỳ lời và tuỳ tình huống. Đây là một lý do khiến vọng cổ trở thành bài phổ biến nhất của cải lương: nó đủ rộng để chở nhiều cảm xúc, mà vẫn giữ được gốc Oán quen thuộc.
Nếu bạn muốn tập nghe hơi Oán, một cách hay là nghe Tứ đại oán trước, rồi nghe một câu vọng cổ chậm, để ý những chỗ tiếng đàn kìm nhấn kéo. Bạn sẽ thấy hai bài tuy khác hẳn về cấu trúc nhưng có chung một kiểu thở. Từ đó, khi đi xem cải lương, những đoạn Oán sẽ hiện ra rõ hơn, và bạn sẽ hiểu vì sao khán giả nín lặng ở những chỗ đó.
Hơi Oán trong một cảnh cải lương
Để thấy hơi Oán làm việc thế nào trên sân khấu, hãy hình dung một cảnh quen thuộc của cải lương, ví dụ giả định: nhân vật nữ đứng một mình sau khi người thương ra đi, ánh đèn hạ xuống. Đoạn trước đó có thể là nói lối, rồi một bài ngắn hơi Bắc khi nhân vật còn đang hồi tưởng chuyện vui. Đến lúc thực tại quay lại, dàn đờn chuyển sang hơi Oán, có khi là một đoạn Tứ đại oán, có khi là câu vọng cổ đi chậm.
Khán giả quen cải lương không cần ai báo cũng biết cảnh đã chuyển. Tiếng đàn kìm nhấn sâu, tiếng đàn cò kéo dài, người ca hạ giọng và ngân lâu hơn ở cuối câu. Lời ca lúc này thường là lời trách phận, nhớ người, hỏi trời, đúng màu sắc ấm ức của hơi Oán. Nếu soạn giả chọn hơi Ai, cảnh sẽ nghiêng về khóc than; chọn hơi Oán, cảnh nghiêng về day dứt, nén lại.
Đây là chỗ cho thấy soạn giả cải lương giỏi phải hiểu hơi như họa sĩ hiểu màu. Không phải bài buồn nào cũng dùng thay nhau được. Người xem có thể không gọi được tên hơi, nhưng cảm được ngay khi một đoạn nhạc đặt sai chỗ: cảnh day dứt mà nhạc lại khóc lóc, hoặc cảnh chia ly mà nhạc chỉ ấm ức. Biết tên hơi Oán, bạn sẽ có thêm một lớp để thưởng thức những cảnh như vậy.
Tập nghe hơi Oán theo từng bước
Trình tự dưới đây dành cho người nghe tự học, không cần biết đờn. Nên dùng bản ghi có ghi rõ tên bài và người chơi là dàn tài tử, không phải bản phối lại có nhạc điện tử.
- Nghe một bài Bắc, ví dụ Lưu thủy trường, để có chuẩn về cảm giác sáng và thẳng.
- Nghe Nam ai để có chuẩn về hơi Ai: buồn, nhấn đậm, như tiếng khóc.
- Nghe Tứ đại oán và so với Nam ai: chú ý chỗ nào nghe nén lại, ấm ức hơn là khóc.
- Nghe lại Tứ đại oán, lần này chỉ để ý tiếng đàn kìm hoặc đàn tranh ở những chỗ ngân: nghe xem cao độ có bị kéo, rung, lơ lửng hay không.
- Nghe một câu vọng cổ chậm, tìm lại những chỗ có kiểu thở giống Tứ đại oán.
- Hỏi người đờn lâu năm ở câu lạc bộ địa phương xem họ cảm thấy khác nhau ra sao giữa Ai và Oán; mỗi người sẽ có một cách tả, và chính sự khác nhau đó giúp bạn nghe rộng hơn.
Sau vài tuần tập như vậy, phần lớn người nghe đều tự phân biệt được hơi Oán với hơi Ai trong đa số trường hợp. Có những bản đờn mà người trong nghề cũng tranh luận, nên không cần lo nếu đôi lúc bạn chưa chắc.
Giữ hơi Oán trong truyền dạy hôm nay
Vì hơi Oán nằm ở độ nhấn mà ký âm khó ghi trọn, đây là phần dễ mất nhất khi đờn ca tài tử được dạy theo lối ghi chép. Một học trò đờn đúng nốt theo sách nhưng chưa được nghe thầy nhấn bao giờ sẽ đờn ra một bài Oán "đúng mà không thật". Người trong nghề nhắc điều này rất nhiều khi bàn chuyện truyền dạy sau khi đờn ca tài tử được UNESCO ghi danh năm 2013 và phong trào học tăng lên.
Cách giữ được người chơi lâu năm khuyên là kết hợp: dùng ký âm để nhớ khung, nhưng học ngón trực tiếp, nghe thầy đờn nhiều lần, ghi âm thầy đờn để về nghe lại. Nhiều câu lạc bộ ở ấp, xã vẫn giữ cách học "ngồi cạnh thầy", học trò đờn theo từng câu rồi thầy sửa ngón. Đó là cách chậm nhưng giữ được hơi.
Với người nghe, việc nghe nhiều bản của nhiều người đờn khác nhau cũng là một cách góp phần giữ hơi Oán: tai người nghe quen với hơi thật thì sẽ nhận ra những bản đờn bị phẳng, và đòi hỏi của người nghe cũng là một sức ép tích cực để người học không dừng ở mức đúng nốt.
Câu hỏi thường gặp
Nhóm Oán trong 20 bài tổ gồm những bài nào?
Nhóm Oán gồm bốn bài, trong đó Tứ đại oán có mặt trong hầu hết danh sách. Ba bài còn lại ghi khác nhau tuỳ tài liệu; tên hay gặp có Phụng hoàng, Giang Nam, Phụng cầu. Khi đọc tài liệu, bạn nên xem tác giả theo dòng thầy nào để hiểu vì sao danh sách khác nhau.
Hơi Oán khác hơi Ai như thế nào?
Hơi Ai buồn thương, chia ly, như tiếng khóc; hơi Oán buồn nhớ, ấm ức, có màu than trách, như một tiếng thở dài nén lại. Về âm thanh, hơi Oán có những nốt được nhấn và rung khiến cao độ như lơ lửng, đó là chỗ người ta bảo khó ra hơi.
Vì sao nói hơi Oán là nét riêng của nhạc Nam Bộ?
Nhiều người trong nghề và nhà nghiên cứu cho rằng hơi Oán hình thành ở Nam Bộ khi nhạc từ miền Trung đi vào và hoà với giọng nói, tâm tình người khai hoang. Đây là nhận định phổ biến, nhưng quá trình chi tiết vẫn còn được bàn thêm.
Vọng cổ có thuộc hơi Oán không?
Bản Dạ cổ hoài lang, tiền thân của vọng cổ, thường được xếp vào hơi Oán và vọng cổ giữ nhiều chỗ nhấn của hơi này. Tuy vậy vọng cổ về sau chuyển hơi linh hoạt theo lời và tình huống, nên không đứng yên trong một hơi duy nhất.
Tứ đại oán có lời ca cố định không?
Không. Tứ đại oán có nhiều lời đặt khác nhau qua các thế hệ. Lời có thể thay, còn khung giai điệu và hơi Oán thì giữ. Một bộ lời được nhiều tài liệu nhắc là lời kể chuyện Bùi Kiệm và Nguyệt Nga lấy từ truyện thơ Lục Vân Tiên.
Tự học đờn hơi Oán qua sách có được không?
Sách và ký âm giúp nhớ khung bài, nhưng hơi Oán nằm ở độ nhấn và độ rung mà ký âm khó ghi trọn. Người chơi lâu năm khuyên nên học trực tiếp với người đờn ở câu lạc bộ hoặc trường nghệ thuật, nghe thầy đờn nhiều lần rồi mới tự tập.