Vọng cổ, bài ca phổ biến nhất của cải lương, bắt nguồn từ bản Dạ cổ hoài lang do nhạc sĩ Cao Văn Lầu (thường gọi Sáu Lầu) sáng tác ở Bạc Liêu, nay thuộc tỉnh Cà Mau, vào đầu thế kỷ XX. Bản gốc đi ở nhịp hai, ngắn và gọn. Qua nhiều chục năm, người đờn và người ca giãn bài dần ra nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16 rồi nhịp 32, và đổi tên thành vọng cổ.
Bài này kể lại chặng đường đó ở mức các dữ kiện được nhiều tài liệu thống nhất, giải thích "nhịp" trong vọng cổ nghĩa là gì, vì sao bài càng giãn càng được ưa, và làm sao để nghe ra cấu trúc một câu vọng cổ. Bài không chép lời Dạ cổ hoài lang (bài có tác giả) và không hướng dẫn tập ca; phần tập ca cho người mới đã có nhiều tài liệu khác.
Dạ cổ hoài lang: một bài nhớ chồng ở nhịp hai
Tên Dạ cổ hoài lang có nghĩa đại ý là nghe tiếng trống đêm mà nhớ chồng. Bài được sáng tác theo lối nhạc tài tử, ở nhịp hai, tức là mỗi câu khá ngắn và nhịp đi tương đối nhanh so với vọng cổ về sau. Người ta thường xếp bài vào hơi Oán, và đúng là cái màu sắc buồn nhớ, nén lại của hơi Oán đã đi theo vọng cổ suốt một thế kỷ.
Quanh hoàn cảnh ra đời của bài có một câu chuyện kể phổ biến về nỗi nhớ người vợ phải rời xa. Nhiều tài liệu ghi lại câu chuyện này, nhưng các chi tiết khác nhau giữa các bản kể, nên người đọc nên coi đó là chuyện truyền miệng gắn với bài hát, không phải sử liệu đã được kiểm chứng từng chi tiết. Cái chắc chắn là bài ra đời ở Bạc Liêu, trong không khí đờn ca tài tử rất thịnh của vùng này, và tác giả là Cao Văn Lầu.
Mốc năm ra đời bài được ghi không thống nhất giữa các nguồn, chênh nhau vài năm quanh cuối thập niên 1910. Vì thế bài này chỉ nói "đầu thế kỷ XX". Ở Bạc Liêu ngày nay có những công trình tưởng niệm gắn với tên ông và với bài hát; nếu có dịp đến vùng này, bạn sẽ thấy người địa phương tự hào về bài ca như một phần lịch sử quê hương.
Các chặng nhịp của vọng cổ
Bảng dưới gom quá trình giãn nhịp theo thứ tự được nhiều tài liệu thống nhất. Mốc năm của từng chặng có nhiều cách ghi, nên bảng chỉ nêu thứ tự và đặc điểm, không ghi năm.
| Chặng | Tên gọi hay gặp | Đặc điểm khi nghe | Nơi thường dùng |
|---|---|---|---|
| Nhịp 2 | Dạ cổ hoài lang | Câu ngắn, nhịp gọn, nghe như một bài ca tài tử nhỏ | Cuộc đờn ca tài tử thời đầu |
| Nhịp 4 | Tên gọi chuyển dần sang Vọng cổ hoài lang | Câu dài gấp đôi, có thêm chỗ ngân | Đờn ca, sân khấu thời kỳ đầu |
| Nhịp 8 | Vọng cổ | Câu dài hơn, nhiều chỗ cho người ca nhả chữ | Sân khấu cải lương, đĩa hát |
| Nhịp 16 | Vọng cổ | Giãn tiếp, lời nhiều hơn mỗi câu | Sân khấu, đĩa hát |
| Nhịp 32 | Vọng cổ | Câu rất dài, người ca có nhiều chỗ luyến láy, kể chuyện bằng lời | Phổ biến nhất trên sân khấu cải lương |
| Nhịp 64 | Vọng cổ | Giãn gấp đôi nhịp 32, rất chậm | Ít gặp, chủ yếu trong cuộc đờn ca thưởng thức |
Cùng với việc giãn nhịp, số câu của bài cũng thay đổi. Vọng cổ nhịp 32 quen thuộc trên sân khấu thường được coi là có sáu câu, mỗi câu dài, và người ca có thể ca trọn hoặc ca một phần tuỳ cảnh diễn.
"Nhịp" trong vọng cổ nghĩa là gì
Chữ nhịp trong vọng cổ không giống chữ "nhịp" trong nhạc phương Tây. Ở đây, nói nhịp 32 là nói mỗi câu vọng cổ có ba mươi hai nhịp, tức ba mươi hai lần đếm cơ bản, với những nhịp chính được đánh dấu bằng tiếng song lang. Khi bài giãn từ nhịp 16 lên nhịp 32, giai điệu chính không đổi hẳn mà được kéo dài ra, chèn thêm nốt, thêm chỗ ngân, thêm chỗ cho lời.
Song lang là nhạc cụ gõ nhỏ gồm hai mảnh gỗ nối với nhau bằng một thanh dẻo, người đờn đặt dưới chân và gõ để giữ nhịp. Trong vọng cổ, tiếng song lang rơi vào những nhịp chính của câu, đặc biệt là nhịp cuối câu. Người ca lâu năm nghe tiếng song lang là biết mình đang ở đâu trong câu, dù ca rất ngẫu hứng ở giữa. Người nghe cũng có thể dùng tiếng song lang làm mốc: đếm từ tiếng này tới tiếng kia, bạn sẽ thấy câu vọng cổ dài đến mức nào.
Điểm hay của việc giãn nhịp là người ca có nhiều chỗ hơn để kể chuyện. Ở nhịp 32, một câu vọng cổ chứa được cả một đoạn tâm sự dài, với những chữ được nhấn, được kéo, được ngắt để làm rõ ý. Đó là lý do vọng cổ trở thành "xương sống" của cải lương: nó cho người ca kể chuyện bằng nhạc theo cách mà ít bài nào khác cho phép.
Nghe một câu vọng cổ: những chỗ nên để ý
Đoạn rao và câu vô. Trước khi vào bài, người đờn thường rao vài câu không theo nhịp để dẫn hơi. Người ca có khi mở bằng nói lối hoặc ca vài câu của một bài khác rồi mới vào vọng cổ. Chỗ chuyển vào vọng cổ, người xem cải lương hay gọi là "vô vọng cổ", thường là lúc khán giả bắt đầu chăm chú.
Thân câu. Giữa câu là phần kể chuyện, lời nhiều, người ca nhả chữ theo dấu giọng tiếng Việt. Đây là chỗ giọng ca được đánh giá: rõ lời mà vẫn mùi, không vì luyến láy mà nuốt chữ.
Xuống xề. Cuối câu vọng cổ có lối xuống câu quen thuộc mà người nghe hay gọi là xuống xề. Đây thường là chỗ khán giả vỗ tay nếu người ca xuống hay. Tai đã quen thì nghe hơi đàn là đoán được sắp xuống câu.
Tiếng đàn kìm và đàn ghi ta phím lõm. Hai cây đàn này thường đối đáp với giọng ca: người ca nghỉ thì đàn lấp chỗ, người ca ngân thì đàn nhấn theo. Nghe kỹ phần đàn giữa các chữ sẽ thấy người đờn giỏi "đỡ" giọng ca như thế nào.
Chuyển hơi. Một số câu vọng cổ chuyển hơi giữa chừng, sáng lên hoặc trầm xuống theo lời. Đây là phần nâng cao, người nghe lâu năm rất thích nhận ra.
Vọng cổ trong đời sống: từ đĩa hát tới tân cổ giao duyên
Trong nhiều thập niên, vọng cổ đi vào đời sống người Nam Bộ không chỉ qua sân khấu mà qua đĩa hát, máy thu thanh, băng cát xét. Những bài vọng cổ ca riêng, không thuộc vở nào, được thu và phát rộng rãi, có lời kể một câu chuyện ngắn, thường là chuyện quê, chuyện tình, chuyện gia đình. Nhiều người thuộc vọng cổ mà chưa từng xem trọn một vở cải lương.
Một hình thức về sau rất phổ biến là tân cổ giao duyên: phần đầu là một đoạn tân nhạc (nhạc mới), rồi chuyển sang vọng cổ. Hình thức này đưa vọng cổ tới cả những người nghe quen tân nhạc. Có người khen tân cổ giao duyên làm vọng cổ gần gũi hơn, có người lo nó làm loãng lề lối; cả hai ý kiến đều có lý, và hình thức này vẫn sống song song với vọng cổ thuần.
Đờn ca tài tử Nam Bộ được UNESCO ghi danh năm 2013, và vọng cổ là bài được nhắc nhiều nhất trong các hoạt động quảng bá. Điều cần nhớ là vọng cổ chỉ là một bài trong cả một hệ bài bản; nghe vọng cổ là cửa vào, nhưng hiểu được nhạc tài tử thì cần nghe thêm các nhóm bài tổ. Ngược lại, hiểu được các bài tổ, bạn sẽ nghe vọng cổ với một lớp ý nghĩa mới: nó là con cháu của hơi Oán và của cả truyền thống đờn ca phía sau.
Vì sao bài càng giãn càng được ưa
Nghe qua thì giãn nhịp giống như làm bài chậm lại, dài ra, tưởng sẽ khó nghe hơn. Thực tế ngược lại: mỗi lần giãn, vọng cổ lại được ưa chuộng hơn. Lý do nằm ở nhu cầu của sân khấu và của người ca. Cải lương cần một bài cho nhân vật giãi bày tâm sự dài, và một câu vọng cổ nhịp 32 chứa được lượng lời gấp nhiều lần câu nhịp hai, mà vẫn giữ được giai điệu quen thuộc.
Người ca cũng có thêm đất để thể hiện. Ở nhịp ngắn, người ca chỉ kịp ca đúng giai điệu; ở nhịp dài, người ca có chỗ để nhả chữ chậm, ngân, nhấn, ngắt câu theo ý, làm nổi bật từng chữ quan trọng. Giọng ca riêng của từng người vì thế hiện ra rõ, và khán giả bắt đầu thích nghe "giọng ai ca vọng cổ" chứ không chỉ nghe bài.
Còn với người đờn, nhịp dài cho phép đối đáp với giọng ca nhiều hơn: chỗ nghỉ của người ca là chỗ tiếng đàn chen vào. Kết quả là một câu vọng cổ nhịp 32 giống một cuộc trò chuyện giữa giọng ca và cây đàn. Chính cái chất đối đáp ấy, kế thừa từ lối chơi tài tử, làm vọng cổ khác hẳn một bài hát thông thường có phần đệm cố định.
Giữ một bài ca đã thành của chung
Một điều đặc biệt ở vọng cổ là bài có tác giả nhưng đã trở thành tài sản chung của cả một vùng văn hoá: hàng nghìn bài vọng cổ được đặt lời mới trên cùng một khung giai điệu, hàng trăm vở cải lương dùng nó. Người đặt lời vọng cổ mới phải theo khung của bài, khớp với nhịp và với dấu giọng, nên đặt lời vọng cổ là một nghề riêng trong giới soạn giả.
Trong các câu lạc bộ đờn ca tài tử ở ấp, xã ngày nay, vọng cổ thường là bài được ca nhiều nhất, vì người ca dễ tìm lời, người nghe dễ theo. Những người chơi lâu năm thường khuyến khích học trò không chỉ ca vọng cổ mà học thêm bài tổ, để giữ cái gốc mà vọng cổ mọc ra. Đó cũng là cách giữ cho vọng cổ không biến thành một bài chỉ còn khung, mất hơi.
Với người nghe hôm nay, cách tôn trọng bài ca là nghe nó trong bối cảnh: biết nó từ đâu ra, đi qua những chặng nào, và đứng ở đâu trong hệ thống bài bản. Khi đó, một câu vọng cổ không còn chỉ là một giai điệu quen tai mà là cả một đoạn lịch sử âm nhạc của vùng đất phương Nam.
Câu hỏi thường gặp
Dạ cổ hoài lang do ai sáng tác?
Bài do nhạc sĩ Cao Văn Lầu, thường gọi Sáu Lầu, sáng tác ở Bạc Liêu, nay thuộc tỉnh Cà Mau, vào đầu thế kỷ XX. Mốc năm cụ thể được ghi không thống nhất giữa các nguồn, chênh nhau vài năm quanh cuối thập niên 1910.
Vọng cổ nhịp 32 nghĩa là gì?
Nghĩa là mỗi câu vọng cổ có ba mươi hai nhịp, với những nhịp chính được đánh dấu bằng tiếng song lang, đặc biệt ở cuối câu. Bài giãn dần từ nhịp 2 qua nhịp 4, 8, 16 lên 32; nhịp 32 là dạng phổ biến nhất trên sân khấu cải lương.
Vọng cổ có bao nhiêu câu?
Vọng cổ nhịp 32 quen thuộc thường được coi là có sáu câu, mỗi câu dài. Trong vở cải lương, người ca có thể ca trọn hoặc chỉ ca một phần tuỳ cảnh diễn. Các dạng nhịp khác có số câu khác.
Xuống xề là gì?
Đó là cách người nghe gọi lối xuống câu quen thuộc ở cuối câu vọng cổ. Đây thường là chỗ khán giả vỗ tay khi người ca xuống hay. Nghe quen tiếng đàn và tiếng song lang, bạn sẽ đoán được lúc sắp xuống câu.
Tân cổ giao duyên khác vọng cổ thế nào?
Tân cổ giao duyên ghép một đoạn tân nhạc ở đầu rồi chuyển sang vọng cổ. Vọng cổ thuần thì chỉ có vọng cổ, có thể kèm nói lối hay vài câu bài bản khác. Hai hình thức tồn tại song song, mỗi bên có người nghe riêng.
Vọng cổ có thuộc đờn ca tài tử không?
Có. Vọng cổ bắt nguồn từ một bài nhạc tài tử và vẫn được ca trong các cuộc đờn ca tài tử, đồng thời là bài chủ lực của cải lương. Đờn ca tài tử Nam Bộ được UNESCO ghi danh năm 2013; vọng cổ là một phần trong hệ bài bản đó.