CoTruyen.comCổ Truyền
Nghệ nhân, truyền nghề và giữ di sản

Giáo phường ca trù: tổ chức phường hát, lệ khảo hạch và lễ mở xiêm áo của đào nương

Ca trù xưa không sống nhờ từng người hát lẻ mà nhờ giáo phường: có trùm phường, có lệ nhận người, lệ khảo hạch trước tổ và lễ mở xiêm áo cho đào mới.

Dim interior of an old northern Vietnamese communal house, a young woman in a plain brown tunic kneeling on a reed mat before elders seen from behind, incense smoke

Giáo phường là tổ chức nghề của những người làm ca trù: một phường gồm nhiều gia đình đào nương và kép đàn, có người đứng đầu, có lệ nhận người, lệ dạy, lệ khảo hạch hằng năm trước bàn thờ tổ và lễ mở xiêm áo để một đào nương mới được hát chính thức. Nhờ cái khung ấy mà một lối hát khó như ca trù được giữ qua nhiều thế hệ, trước khi bước vào giai đoạn suy tàn ở giữa thế kỷ 20.

Bài này nói về con người và nếp tổ chức của ca trù xưa, không đi vào thể cách hay cách nghe hát nói. Những chi tiết khác nhau giữa các vùng được ghi rõ là "theo lời kể" hoặc "theo một số tư liệu", vì giáo phường ở Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Nghệ An xưa không theo một lệ hoàn toàn giống nhau.

Giáo phường là gì và vì sao ca trù cần đến nó

Chữ "giáo phường" trong tư liệu cũ dùng để chỉ phường của những người làm nghề hát xướng. Với ca trù, giáo phường không phải một câu lạc bộ yêu nhạc mà là một tổ chức nghề nghiệp đúng nghĩa: người trong phường sống bằng tiếng hát và ngón đàn, chia nhau việc hát ở đình, ở nhà quan, ở nhà hát, và cùng chịu những lệ chung. Phường thường gắn với một làng hoặc một nhóm làng, nhiều gia đình trong đó đời này qua đời khác đều theo nghề.

Ca trù cần một tổ chức như thế vì đây là lối hát rất khó học và rất khó tự mình duy trì. Một đào nương phải luyện giọng, luyện phách nhiều năm; một kép đàn phải theo được lối ngắt nhịp tinh tế của người hát; một canh hát lại cần đủ ba người ăn ý là đào nương, kép đàn và người cầm chầu. Người học lẻ, không có thầy, không có chỗ hát thường xuyên thì khó thành nghề. Giáo phường gom tất cả những thứ đó lại: có người dạy, có nơi diễn, có lệ giữ nghề.

Giáo phường còn là chỗ dựa xã hội. Người làm nghề hát trong xã hội cũ thường bị xếp vào hàng thấp, nhiều nơi không cho con cái thi cử. Đứng trong một phường có lệ có lề giúp người làm nghề có tiếng nói khi làm việc với làng, với nhà quan, và có nơi nương tựa khi ốm đau, tuổi già.

Bộ máy của một giáo phường

Người đứng đầu. Tư liệu hay gọi là trùm phường hoặc ông trùm, có nơi bà trùm, thường là người cao tuổi, giỏi nghề và có uy tín. Trùm phường lo việc chung: nhận lời mời hát, phân người đi hát, giữ quỹ, đứng ra làm lễ ở ngày giỗ tổ và chủ trì việc khảo hạch.

Đào nương. Là người hát và gõ phách. Trong giáo phường, đào nương được nhìn như người giữ phần chính của nghề. Nhiều tư liệu ghi lệ truyền nghề hát theo dòng nữ trong gia đình: mẹ dạy con gái, cô dạy cháu, và con gái nhà nòi được học từ rất nhỏ.

Kép đàn. Là người đàn đáy đi theo đào nương. Kép đàn thường là đàn ông trong các gia đình của phường, có khi là chồng, anh em hoặc cha của đào nương. Một đôi đào kép ăn ý lâu năm được khách nghe tìm đến như tìm một cặp nghệ sĩ quen.

Người học việc. Trẻ con trong các gia đình nghề theo người lớn đi hát, ngồi nghe, chép lời, tập phách ở nhà. Chúng chưa được hát chính thức cho tới khi qua được những lệ của phường, mà quan trọng nhất là lễ mở xiêm áo.

Người cầm chầu. Người cầm chầu thường không thuộc giáo phường mà là quan viên, khách sành nghe. Tuy vậy trong sinh hoạt ở cửa đình, phường vẫn phải có người am hiểu cầm chầu để buổi hát giữ đúng lề lối. Tiếng trống chầu khen chê đúng chỗ là thứ giữ chuẩn mực của cả lối hát.

Lễ mở xiêm áo: ngày đào nương được bước vào nghề

Lễ mở xiêm áo, có nơi gọi là lễ mở xiêm, là nghi thức để một cô gái học hát được giáo phường công nhận là đào nương và từ đó được đi hát chính thức. Theo các tư liệu được ghi lại, cô gái làm lễ khi đã qua một thời gian học, thường còn rất trẻ, ở độ tuổi mười mấy. Gia đình cô sửa lễ dâng tổ nghề, mời trùm phường và các đào kép trong phường đến dự, có nơi làm cỗ mời cả phường.

Trong buổi lễ, cô gái hát trước bàn thờ tổ và trước những người đi trước. Đây vừa là lời trình với tổ nghề, vừa là một lần thử trước mặt người trong nghề. Từ sau lễ, cô được mặc xiêm áo của đào nương, được ngồi vào chiếu hát với khách, và tên cô được phường ghi nhận. Chữ "mở xiêm áo" vì thế mang nghĩa đen là lần đầu khoác bộ áo của nghề, nghĩa bóng là được mở cửa vào nghề.

Lễ này cho thấy ca trù nhìn việc thành nghề nghiêm thế nào. Không ai tự xưng đào nương được; phải có thầy, có phường, có tổ chứng giám. Chi phí lễ, số mâm cỗ, cách mời mỗi nơi một khác, và các cụ trong nghề kể lại cũng không hoàn toàn khớp nhau. Điều chung là lễ mở xiêm áo đánh dấu ranh giới giữa người đang học và người đã làm nghề.

Lệ khảo hạch trước tổ nghề

Bên cạnh lễ mở xiêm áo dành cho người mới, nhiều giáo phường còn có lệ khảo hạch định kỳ, thường gắn với ngày giỗ tổ ca trù. Vào dịp này đào nương và kép đàn trong phường tụ về nơi thờ tổ, lần lượt hát và đàn trước các bậc cao niên. Theo một số tư liệu, kết quả khảo hạch có ảnh hưởng đến thứ bậc của người hát trong phường, ai giỏi hơn được xếp ngồi trên, được giao những buổi hát quan trọng hơn.

Lệ khảo hạch có ý nghĩa giống một kỳ kiểm tra tay nghề. Nó giữ cho người đã vào nghề không được buông lỏng, và cho người trẻ một cái đích để phấn đấu. Nó cũng là dịp để cả phường nghe lại các bài khó, sửa những chỗ hát lệch, nhắc nhau giữ đúng lối cổ. Một lối hát truyền khẩu dễ bị trôi dần theo thói quen riêng của từng người; buổi khảo hạch có tác dụng kéo mọi người về một chuẩn chung.

Về nơi thờ tổ, nhiều làng có ca trù đều thờ tổ nghề, và không ít nơi nhận làng mình là đất tổ. Tương truyền, làng Lỗ Khê ở ngoại thành Hà Nội là một trong những nơi được nhắc nhiều nhất với tư cách đất tổ ca trù. Tên vị tổ và tích truyện mỗi nơi kể một khác, bạn đọc nên coi đó là truyền thuyết của nghề, không phải sử liệu đã xác minh.

Ba không gian hát và phần việc của giáo phường

Ca trù xưa diễn ở nhiều không gian khác nhau. Mỗi không gian kéo theo một cách tổ chức khác của giáo phường:

Không gianHát cho ai, vì việc gìGiáo phường lo những gì
Hát cửa đìnhHát thờ thần trong dịp tế lễ, hội làngNhận lời làng, cử đủ đào kép, giữ đúng lề lối nghi lễ, có lúc phải hát nhiều ngày
Hát cửa quyềnHát trong phủ quan, dinh thự, dịp khánh tiếtChọn người giỏi và quen lễ nghi, giữ phép tắc trước quan khách
Hát chơi, hát nhà tròHát cho khách sành nghe thưởng thức, thường ở nhà riêng hoặc nhà hát của phườngLo chỗ hát, đón khách, phân đôi đào kép, giữ quy củ để lối hát không bị biến chất

Đến đầu thế kỷ 20, ở các đô thị như Hà Nội xuất hiện những nhà hát cô đầu tập trung trên một số phố. Đây là lúc ca trù đi vào một môi trường thương mại, có nơi bị pha tạp, khiến tiếng tăm của lối hát lẫn lộn trong mắt người đời. Nhiều nhà nghiên cứu về sau đã phải tách bạch giữa ca trù như một nghệ thuật với những sinh hoạt ăn chơi mang tên nó.

Khi giáo phường tan và ca trù đứng trước nguy cơ mất

Từ giữa thế kỷ 20, ca trù gần như vắng bóng trên sân khấu công cộng. Các giáo phường mất nơi diễn, mất nguồn sống, người làm nghề chuyển sang việc khác, nhiều người giấu luôn quá khứ hát của mình. Khi khung tổ chức tan, cái mất đầu tiên là con đường truyền nghề: không còn lễ mở xiêm áo, không còn khảo hạch, không còn trẻ con ngồi nghe người lớn hát mỗi tối.

Bởi thế khi giới nghiên cứu và những người yêu ca trù bắt đầu tìm lại lối hát này từ cuối thế kỷ 20, họ phải tìm đến từng nghệ nhân cao tuổi còn nhớ, thường là người cuối cùng của một gia đình nghề. Những bản thu âm thời kỳ đó trở thành tư liệu quý. Năm 2009, ca trù được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, chính vì số người còn nắm nghề đã rất ít và cách truyền nghề truyền thống bị đứt.

Các câu lạc bộ, nhóm ca trù hình thành từ đó mang dáng dấp một giáo phường mới: có người đứng đầu, có lớp học, có buổi sinh hoạt định kỳ, có nơi mời các cụ về truyền dạy. Điểm khác là người học không còn nhất thiết là con nhà nòi. Một phần lệ cũ như ngày giỗ tổ được giữ lại như sinh hoạt văn hoá của nghề.

Đọc tư liệu về giáo phường cho tỉnh táo

Khi tìm hiểu giáo phường ca trù qua sách báo, bạn nên lưu ý mấy điều để khỏi lẫn chuyện truyền thuyết với sự kiện:

  • Lệ mỗi nơi một khác. Giáo phường ở các vùng khác nhau có tục lệ riêng. Một chi tiết ghi cho làng này chưa chắc đúng với làng khác.
  • Phân biệt tư liệu điền dã với giai thoại. Lời kể của nghệ nhân được ghi âm là nguồn quý, nhưng cũng là trí nhớ của một người, nên cần đối chiếu với các nguồn khác.
  • Cẩn thận với tên tổ nghề và năm tháng. Nhiều bài viết đưa năm sinh của tổ ca trù, năm lập phường như sự thật, trong khi đó chỉ là truyền thuyết của làng.
  • Đừng đánh đồng ca trù với nhà hát cô đầu. Giai đoạn thương mại hoá là có thật, nhưng không đại diện cho cả lịch sử lối hát.
  • Tôn trọng gia đình nghề. Con cháu các dòng ca trù có khi vẫn ngại nhắc chuyện cũ. Muốn tìm hiểu thì hỏi qua người giới thiệu, xin phép trước khi ghi âm, ghi hình.

Câu hỏi thường gặp

Giáo phường ca trù khác câu lạc bộ ca trù ngày nay thế nào?

Giáo phường xưa là tổ chức nghề nghiệp, người trong phường sống bằng nghề hát và phần lớn là người trong các gia đình nghề. Câu lạc bộ ngày nay chủ yếu là nơi học và sinh hoạt, người tham gia đến từ nhiều nghề khác nhau và không bắt buộc phải là con nhà nòi.

Lễ mở xiêm áo có còn được tổ chức không?

Ở dạng nguyên vẹn như xưa thì hiếm. Một số nhóm, câu lạc bộ ca trù có làm lễ ra mắt cho người học mới hoặc giữ ngày giỗ tổ như dịp gặp mặt. Nghi thức cụ thể tuỳ nhóm và không nhất thiết giống tư liệu cũ.

Vì sao nghề hát ca trù xưa thường truyền theo dòng nữ?

Đào nương là người hát và gõ phách, giữ phần chính của buổi hát. Nhiều tư liệu ghi rằng các gia đình nghề dạy con gái từ rất nhỏ để nối nghề hát, còn con trai học đàn đáy làm kép. Cách chia này không tuyệt đối và thay đổi theo vùng, theo gia đình.

Đất tổ ca trù ở đâu?

Nhiều làng có ca trù đều thờ tổ và có truyền thuyết riêng. Làng Lỗ Khê ở ngoại thành Hà Nội được nhắc nhiều với tư cách đất tổ ca trù, nhưng đây là truyền thuyết của nghề. Nên đọc tích tổ như câu chuyện văn hoá, không phải sử liệu đã kiểm chứng.

Ca trù được UNESCO ghi danh năm nào và thuộc danh sách nào?

Ca trù được UNESCO ghi danh năm 2009 vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Lý do chính là số nghệ nhân còn nắm nghề đã rất ít và con đường truyền nghề truyền thống bị đứt đoạn trong nhiều thập kỷ.

Muốn đọc thêm về giáo phường thì tìm nguồn nào?

Bạn có thể tìm các công trình nghiên cứu ca trù của những nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc, sách chuyên khảo về hát ả đào, và tư liệu thu âm ở các viện nghiên cứu âm nhạc. Nên đọc nhiều nguồn để thấy chỗ giống và khác giữa các vùng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183