CoTruyen.comCổ Truyền
Nghệ nhân, truyền nghề và giữ di sản

Sân khấu hoá di sản: khi lối hát rời sân đình lên sân khấu, được gì và mất gì

Quan họ có micro, cồng chiêng diễn cho khách, rối nước diễn mỗi tối: sân khấu giúp di sản có người xem nhưng cũng làm đổi nó. Nhìn cả hai mặt cho công bằng.

Wide view from the back of a dark modern theatre hall in Hanoi, a brightly lit stage with performers in traditional costumes far away, silhouettes of audience heads

Sân khấu hoá di sản là việc đưa một lối hát, một điệu múa, một nghi thức ra khỏi bối cảnh cộng đồng vốn có của nó để trình diễn trên sân khấu, trước khán giả mua vé, khách du lịch hay ống kính truyền hình. Việc này giúp di sản có thêm người biết, người xem, giúp người giữ nghề có thu nhập; nhưng nó cũng thay đổi di sản, đôi khi đến mức làm mất đi cái lý do khiến di sản ấy tồn tại.

Bài này không phán xét sân khấu là tốt hay xấu. Mục đích là giúp người xem, người làm biểu diễn và người làm văn hoá nhìn rõ cả hai mặt, để có thể thưởng thức và ủng hộ di sản một cách tỉnh táo.

Di sản sinh ra trong bối cảnh nào

Phần lớn nghệ thuật dân gian Việt Nam không sinh ra để biểu diễn cho người lạ xem. Quan họ là cuộc hát giữa hai bọn bạn của hai làng kết nghĩa, có mời trầu, có hát đối đáp suốt đêm. Cồng chiêng ở Tây Nguyên gắn với các lễ của buôn làng, với mùa màng, với vòng đời con người. Hát Xoan được hát ở đình, miếu đầu xuân. Hát bội ở Nam Bộ và miền Trung gắn với lễ cúng đình. Rối nước gắn với ao làng, với mùa nông nhàn.

Trong bối cảnh ấy, người hát và người nghe không tách biệt rõ. Người nghe là bạn hát, là dân làng, là thần linh trong quan niệm của cộng đồng. Một canh hát có thể kéo dài nhiều giờ, không có kịch bản cố định, người hát chọn bài tuỳ theo bên kia hát gì. Trang phục là quần áo đẹp nhất của người dân chứ không phải phục trang sân khấu. Âm thanh là giọng mộc, không có loa.

Hiểu bối cảnh gốc giúp ta thấy sân khấu hoá thay đổi những gì. Không phải mọi thay đổi đều xấu, nhưng khi ta biết di sản vốn là gì, ta mới đánh giá được bản trên sân khấu đã giữ lại được bao nhiêu.

Cũng cần nói thêm rằng bối cảnh gốc bản thân nó cũng không đứng yên. Hội làng hôm nay khác hội làng trăm năm trước, có loa, có điện, có người đi làm xa về. Vì vậy câu hỏi không phải là giữ nguyên tuyệt đối, mà là những thay đổi nào vẫn để di sản giữ được ý nghĩa với chính cộng đồng của nó.

Những gì thường đổi khi lên sân khấu

Bảng dưới gom các thay đổi hay gặp khi một lối hát, điệu múa dân gian được đưa lên sân khấu biểu diễn:

Yếu tốTrong bối cảnh cộng đồngTrên sân khấu biểu diễn
Thời lượngDài, theo nhịp của cuộc gặp, cuộc lễRút gọn thành tiết mục vài phút
Người ngheBạn hát, dân làng, người tham gia lễKhán giả ngồi xem, phần lớn không tham gia
Cấu trúcỨng tác, đối đáp, chọn bài theo tình huốngDàn dựng sẵn, chọn bài nổi tiếng, cố định thứ tự
Âm thanhGiọng mộc, nhạc cụ mộcMicro, loa, có khi thêm nhạc đệm hiện đại
Trang phụcÁo đẹp của người dân trong dịp lễPhục trang được thiết kế cho đẹp, có khi cầu kỳ hơn nhiều
Động tácTự nhiên, gắn với việc hát hay lễThêm múa phụ hoạ, xếp đội hình cho bắt mắt

Những thay đổi này có lý do của nó: khán giả hiện đại có ít thời gian, sân khấu lớn cần âm thanh khuếch đại, người xem không quen một canh hát kéo dài. Vấn đề chỉ nảy sinh khi bản sân khấu dần thay thế hoàn toàn bản gốc trong nhận thức của mọi người.

Những gì sân khấu mang lại

Người xem và sự chú ý. Nhiều người lần đầu biết đến quan họ, ca trù, rối nước qua một buổi diễn trên sân khấu. Không có sân khấu, những lối hát ấy có thể chỉ được biết đến trong phạm vi vài làng.

Sinh kế cho người giữ nghề. Biểu diễn mang lại thu nhập, giúp nghệ nhân và người trẻ có lý do để tiếp tục. Nhiều phường rối, nhóm hát duy trì được nhờ có lịch diễn đều.

Động lực luyện tập. Có buổi diễn, có khán giả, người học chăm tập hơn. Sân khấu là đích để hướng tới trong quá trình học.

Chuẩn mực tay nghề. Biểu diễn chuyên nghiệp đòi hỏi tập luyện nghiêm, giúp nâng kỹ thuật của người diễn. Nhiều nghệ sĩ sân khấu sau đó trở thành người dạy giỏi, đưa kỹ thuật ấy về lại các câu lạc bộ, các lớp ở địa phương.

Một cửa sổ giao lưu. Sân khấu đưa di sản đi xa, ra các thành phố, ra nước ngoài, giúp di sản Việt được biết đến và tạo cơ hội học hỏi giữa các nền văn hoá.

Những gì có thể mất

Chức năng xã hội. Khi quan họ chỉ còn là tiết mục, tục kết chạ, nhà chứa, cuộc hát thâu đêm giữa hai làng không còn lý do để duy trì. Lối hát vẫn còn, nhưng mối quan hệ người với người mà nó phục vụ đã phai.

Sự đa dạng. Sân khấu thường chọn những bài nổi tiếng, dễ nghe, và dạy theo một bản chuẩn. Hàng trăm bài ít người biết, những dị bản của từng làng dần bị bỏ quên.

Ý nghĩa nghi lễ. Cồng chiêng hay một điệu múa lễ diễn cho khách ăn tối xem, tách khỏi mùa vụ và nghi thức, có thể làm chính cộng đồng cảm thấy di sản của mình bị dùng sai chỗ.

Tiếng nói của cộng đồng. Khi đơn vị biểu diễn, công ty du lịch quyết định di sản được trình bày thế nào, cộng đồng gốc có thể mất quyền quyết định về chính di sản của mình.

Chuẩn mực nghe nhìn. Người xem quen bản có micro, có nhạc đệm, có phục trang lộng lẫy, khi nghe giọng mộc của một cụ già trong làng lại thấy "không hay". Đó là một sự thay đổi thẩm mỹ khó đảo ngược.

Ba trường hợp quen thuộc nhìn từ hai phía

Rối nước là ví dụ dễ thấy. Ở thành phố, các nhà hát rối nước diễn đều đặn, khách trong nước và nước ngoài đông, nghệ sĩ có việc làm ổn định, kỹ thuật được trau chuốt. Cùng lúc đó, nhiều phường rối ở làng vẫn giữ thủy đình, giữ những tích trò cổ và chỉ diễn vào dịp hội. Hai không gian song song: một nơi giới thiệu, một nơi giữ gốc. Câu hỏi đặt ra là các phường ở làng có đủ sức sống khi khán giả và người trẻ dồn về phía sân khấu thành phố hay không.

Cồng chiêng Tây Nguyên là trường hợp nhạy cảm hơn. Biểu diễn cồng chiêng cho du khách diễn ra khá phổ biến, trong khi ở nhiều buôn làng, các lễ gắn với cồng chiêng đã thưa dần vì đời sống thay đổi. Người nghiên cứu lo ngại rằng nếu cồng chiêng chỉ còn vang lên trong các buổi diễn, nó sẽ mất đi vai trò trong vòng đời và mùa màng của cộng đồng, thứ làm nên ý nghĩa của Không gian văn hoá cồng chiêng.

Bài chòi lại cho thấy một hướng khác. Ở nhiều nơi miền Trung, hội đánh bài chòi được tổ chức lại trong dịp Tết, người dân cùng tham gia, cùng nghe hô thai, giữ được không khí hội như xưa. Song song là các tiết mục bài chòi trên sân khấu. Khi không gian hội được giữ, sân khấu trở thành phần bổ sung chứ không thay thế. Ba trường hợp cho thấy kết quả không nằm ở việc có sân khấu hay không, mà ở chỗ cộng đồng gốc còn giữ được dịp và lý do để thực hành hay không.

Giữ cân bằng: điều người làm văn hoá thường đề xuất

Không ai đề nghị cấm đưa di sản lên sân khấu. Điều được đề xuất là giữ cả hai không gian: không gian biểu diễn và không gian thực hành trong cộng đồng. Sân khấu là nơi giới thiệu; làng, đình, buôn là nơi di sản thật sự sống. Nếu chỉ còn sân khấu, di sản giống một bông hoa cắt cành, đẹp nhưng không tự sinh trưởng được.

UNESCO có một bộ nguyên tắc đạo đức cho việc bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, trong đó nhấn mạnh vai trò quyết định của cộng đồng, sự tôn trọng bối cảnh và ý nghĩa của di sản, và việc tránh làm sai lệch di sản vì mục đích thương mại. Tinh thần ấy dễ hiểu: cộng đồng là người quyết định phần nào của di sản có thể đem ra trình diễn, phần nào nên giữ trong phạm vi nghi lễ.

Với người làm biểu diễn, một cách làm tốt là nói rõ với khán giả đây là bản đã được dàn dựng, giới thiệu bối cảnh gốc trong chương trình, và khuyến khích khán giả tìm đến nơi di sản đang sống. Một số chương trình mời chính nghệ nhân trong làng cùng diễn, giữ giọng mộc, giữ nhịp chậm, chấp nhận ít "hiệu ứng" hơn để giữ đúng tinh thần.

Đi xem một buổi biểu diễn di sản: vài gợi ý cho người xem

Bạn hoàn toàn có thể thưởng thức một buổi diễn trên sân khấu mà vẫn hiểu đúng về di sản. Vài gợi ý:

  • Tìm hiểu bối cảnh trước. Đọc vài dòng về lối hát hay điệu múa trước khi xem: nó vốn được thực hành ở đâu, vào dịp nào, vì sao.
  • Nghe ra chỗ giữ, chỗ đổi. Để ý xem buổi diễn dùng giọng mộc hay micro, có nhạc đệm hiện đại không, bài có bị rút gọn không.
  • Tìm đến bản gốc nếu có dịp. Đi hội làng, nghe một canh hát ở nhà văn hoá thôn, ghé một phường hát sinh hoạt. So sánh sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn cả hai.
  • Tôn trọng nghi lễ. Nếu được mời xem một phần nghi lễ, hãy giữ trật tự, xin phép trước khi chụp ảnh, không yêu cầu người ta diễn lại cho mình quay.
  • Ủng hộ người giữ nghề. Mua vé buổi diễn, mua sản phẩm thủ công, giới thiệu cho bạn bè. Sự ủng hộ ấy giúp người làm nghề có điều kiện giữ cả bản gốc lẫn bản sân khấu.

Câu hỏi thường gặp

Sân khấu hoá di sản có phải là điều xấu không?

Không hẳn. Sân khấu giúp di sản được biết đến và mang lại sinh kế cho người giữ nghề. Vấn đề nảy sinh khi bản sân khấu thay thế hoàn toàn thực hành trong cộng đồng, hoặc khi cộng đồng mất quyền quyết định về cách di sản được trình bày.

Làm sao biết một buổi diễn giữ được tinh thần di sản?

Có vài dấu hiệu: nghệ nhân của cộng đồng gốc tham gia, giọng hát và nhạc cụ mộc được giữ, bối cảnh được giới thiệu rõ, bài không bị cắt quá mức. Tuy vậy, đánh giá cuối cùng nên dựa vào ý kiến của chính cộng đồng giữ di sản.

Vì sao một số cộng đồng không muốn đem nghi lễ ra biểu diễn?

Vì với họ, nghi lễ gắn với niềm tin, với thời điểm và không gian nhất định. Diễn lại nghi lễ cho khách xem tuỳ lúc có thể bị coi là thiếu tôn trọng. Người tổ chức nên hỏi ý cộng đồng trước khi đưa bất kỳ phần nghi lễ nào lên sân khấu.

Có nên dùng micro khi hát dân ca không?

Trong không gian lớn, micro giúp người nghe phía xa nghe rõ, nên đôi khi là cần thiết. Nhưng nên giữ âm lượng vừa phải, không thêm hiệu ứng làm méo giọng, và nếu có thể thì tổ chức những buổi hát mộc trong không gian nhỏ để giữ đúng chất của lối hát.

Người xem bình thường có thể làm gì để ủng hộ di sản đúng cách?

Đi xem cả buổi diễn trên sân khấu lẫn sinh hoạt trong cộng đồng nếu có dịp, tìm hiểu bối cảnh, tôn trọng nghi lễ, mua vé và sản phẩm của người làm nghề, chia sẻ thông tin chính xác. Những việc nhỏ ấy cộng lại có ý nghĩa với người giữ nghề.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183