Ca ra bộ là lối ca bài bản tài tử kèm điệu bộ, người ca nhập vai nhân vật trong lời ca, thay vì chỉ ngồi ca như trong cuộc đờn ca tài tử. Lối ca này xuất hiện ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX và được hầu hết tài liệu xem là bước trung gian giữa đờn ca tài tử ngồi chiếu và sân khấu cải lương có màn, có cảnh, có vở.
Bài này kể lại quá trình đó ở mức các dữ kiện được nhiều nguồn thống nhất: ca ra bộ khác đờn ca tài tử ở đâu, vì sao nó nảy sinh, những yếu tố nào của nó còn nằm trong cải lương hôm nay. Mốc năm, tên gánh hát đầu tiên, tên người khởi xướng có nhiều cách ghi khác nhau, nên bài chỉ nêu những gì đủ chắc và nói rõ chỗ còn bàn.
Từ ngồi ca sang đứng ca có điệu bộ
Trong cuộc đờn ca tài tử, người ca ngồi cùng người đờn, ca bằng giọng, không diễn. Lời ca nhiều khi là lời kể chuyện, có nhân vật, có tình huống, ví dụ chuyện chia ly, chuyện thi cử, chuyện vợ chồng. Khi lời ca có nhân vật, việc người ca tự nhiên làm vài cử chỉ minh hoạ, đứng dậy, đưa tay, quay người, là bước đi rất dễ hiểu.
Ca ra bộ là khi những cử chỉ ấy trở thành cách trình bày chính thức: người ca đứng, nhập vai nhân vật trong lời ca, dùng điệu bộ để kể chuyện. Nếu lời ca có hai nhân vật đối đáp, hai người ca chia vai, mỗi người một vai, ca đối đáp với nhau. Dàn đờn vẫn ngồi đờn như cũ. Chưa có cảnh trí, chưa có màn, chưa có vở dài; nhưng người nghe đã bắt đầu trở thành người xem.
Nhiều tài liệu nhắc tới một bộ lời Tứ đại oán kể chuyện Bùi Kiệm và Nguyệt Nga trong truyện thơ Lục Vân Tiên như một trong những bài được ca ra bộ sớm và phổ biến. Đây là chi tiết hay được dẫn, nhưng các tài liệu không thống nhất về người ca đầu tiên hay nơi diễn đầu tiên. Điều chắc là lối ca này lan nhanh ở các tỉnh miền Tây, được khán giả ưa vì vừa nghe nhạc quen vừa xem được chuyện.
Đờn ca tài tử, ca ra bộ và cải lương khác nhau thế nào
Bảng dưới đặt ba hình thức cạnh nhau để thấy từng bước chuyển. Đây là mô tả khái quát; trong thực tế, ranh giới giữa các giai đoạn không sắc nét và có thời kỳ cả ba cùng tồn tại.
| Điểm so | Đờn ca tài tử | Ca ra bộ | Cải lương |
|---|---|---|---|
| Người trình bày | Người đờn và người ca ngồi cùng nhau | Người ca đứng, nhập vai; dàn đờn ngồi | Diễn viên nhập vai; dàn nhạc ở cánh gà hoặc dưới sân khấu |
| Cách trình bày | Ca bằng giọng, không diễn | Ca kèm điệu bộ, đối đáp | Ca, nói lối, thoại, diễn xuất, có cảnh trí |
| Độ dài | Từng bài | Từng bài hoặc vài bài nối nhau | Cả vở nhiều màn, nhiều lớp |
| Người xem | Người nghe ngồi gần | Người xem đứng ngồi quanh | Khán giả có chỗ ngồi, có vé |
| Không gian | Nhà, ghe, đám tiệc | Sân, nhà, nơi tụ họp | Rạp, sân khấu dựng |
Nhìn bảng sẽ thấy ca ra bộ giữ nguyên phần nhạc của tài tử, chỉ thêm phần diễn. Chính vì phần nhạc không đổi, khán giả quen đờn ca tài tử dễ dàng chấp nhận, và đó là nền để cải lương lớn lên mà vẫn giữ được gốc âm nhạc Nam Bộ.
Những gì ca ra bộ để lại trong cải lương
Cái lớn nhất ca ra bộ để lại là nguyên tắc dùng bài bản tài tử để kể chuyện nhân vật. Cải lương về sau thêm nói lối, thêm lời thoại, thêm cảnh trí, nhưng phần cốt lõi vẫn là: mỗi đoạn tâm trạng có một bài bản phù hợp, người diễn viên ca bài đó trong vai nhân vật. Đây là khác biệt căn bản giữa cải lương và kịch nói.
Thứ hai là lối ca đối đáp. Trong ca ra bộ, hai người ca chia vai, ca qua lại; trong cải lương, những đoạn đối đáp bằng bài bản, đặc biệt là vọng cổ chia câu cho hai nhân vật, là phần khán giả mong nhất. Người xem quen gọi những đoạn đó là "ca mùi", khi cả hai diễn viên đều đủ giọng và hiểu nhau.
Thứ ba là sự gần gũi với đời thường. Ca ra bộ dùng điệu bộ tự nhiên, không có hệ thống ước lệ chặt như hát bội. Tinh thần ấy đi vào cải lương: diễn xuất gần với cử chỉ thật, nhất là ở các tuồng xã hội. Đây là một lý do khiến cải lương nhanh chóng được đông đảo người xem đón nhận, vì họ nhìn thấy mình trên sân khấu.
Nói lối: mảnh ghép giữa lời ca và lời thoại
Khi ca ra bộ dần phát triển thành những màn diễn dài hơn, người diễn cần cách chuyển từ bài ca này sang bài ca khác, và cần cách đưa thông tin câu chuyện mà không phải lúc nào cũng ca. Một trong những lời giải là nói lối: lối nói có vần, có nhịp, nằm giữa nói thường và ca, thường đi kèm tiếng đàn hoặc tiếng trống nhẹ. Nói lối đã có trong các loại sân khấu truyền thống khác, và trong cải lương nó trở thành phần không thể thiếu.
Trong một vở cải lương, nói lối thường đứng trước một bài bản hoặc một câu vọng cổ, dẫn người xem vào tâm trạng nhân vật. Nghe nói lối, khán giả biết sắp có bài ca, giống như nghe đoạn rao của người đờn trong cuộc tài tử. Nói lối hay là nói lối có vần đẹp, nhịp chắc, chữ rõ, và chuyển vào bài ca một cách tự nhiên, không khựng.
Cùng với nói lối, lời thoại thường cũng xuất hiện ngày càng nhiều khi cải lương thành hình. Từ đây, một vở cải lương có ba lớp lời: thoại để kể chuyện nhanh, nói lối để chuyển cảnh và chuẩn bị tâm trạng, bài ca để giãi bày sâu. Ca ra bộ ban đầu chỉ có lớp thứ ba; cải lương là khi cả ba lớp ghép lại thành một hệ thống hoàn chỉnh mà người xem quen tai đến mức không cần ai giải thích.
Các dòng ảnh hưởng gặp nhau
Đờn ca tài tử. Nguồn chính cho phần nhạc và lời ca. Hệ bài bản, cách đờn, cách ca, cách đối đáp giữa giọng và đàn đều đi từ tài tử vào cải lương.
Hát bội Nam Bộ. Sân khấu đã có trước đó ở Nam Bộ, cho cải lương kinh nghiệm dựng vở, chia vai, một số tích truyện và động tác, nhất là ở những tuồng tích có cảnh võ, cảnh triều đình. Cải lương giản lược phần ước lệ, giữ phần cần thiết.
Kịch nói phương Tây. Thời kỳ đầu thế kỷ XX, ở các đô thị Nam Bộ đã có những buổi diễn kịch theo lối phương Tây. Cách dựng màn, chia cảnh, cảnh trí phông màn, lời thoại thường được xem là có chịu ảnh hưởng từ đây.
Sân khấu Quảng Đông. Các gánh hát của người Hoa ở Nam Bộ cũng là một dòng ảnh hưởng, rõ nhất về sau trong dòng cải lương Hồ Quảng với trang phục, động tác và một số điệu nhạc riêng.
Đời sống đô thị mới. Sự hình thành các thị trấn, chợ lớn, khán giả có tiền mua vé, nhu cầu giải trí mới cũng là điều kiện để một loại sân khấu thương mại như cải lương có đất sống.
Chữ "cải lương" và những chỗ còn bàn
Chữ cải lương là từ Hán Việt, cải là sửa đổi, lương là tốt, ghép lại mang nghĩa sửa đổi cho tốt hơn. Tên gọi nói lên tinh thần của những người làm sân khấu thời đó: đổi mới so với lối hát cũ. Cách hiểu này được hầu hết tài liệu thống nhất.
Những chỗ còn bàn nhiều hơn là: buổi diễn đầu tiên được gọi là cải lương là buổi nào, gánh hát nào, ở tỉnh nào, năm nào. Các nguồn đưa ra những mốc khác nhau, thường xoay quanh các tỉnh miền Tây như vùng Mỹ Tho (Tiền Giang cũ, nay thuộc Đồng Tháp), Vĩnh Long, Sa Đéc và quanh khoảng cuối thập niên 1910, đầu thập niên 1920. Bài này không chọn một mốc nào, vì chọn sai là đóng đinh một dữ kiện chưa chắc.
Với người đọc, điều quan trọng hơn mốc năm là hiểu quá trình: cải lương không sinh ra trong một đêm mà lớn dần từ đờn ca tài tử, qua ca ra bộ, rồi gặp các dòng ảnh hưởng khác. Khi đọc một tài liệu khẳng định chắc nịch "cải lương ra đời ngày ấy, ở chỗ ấy", bạn nên xem tài liệu đó dựa vào nguồn nào.
Ca ra bộ hôm nay
Ngày nay ca ra bộ ít khi được trình diễn như một hình thức độc lập; phần lớn người xem quen với cải lương đầy đủ. Tuy vậy, ở các câu lạc bộ đờn ca tài tử ấp, xã, trong các liên hoan, hội thi, lối trình bày "ca có điệu bộ" vẫn thường gặp, nhất là khi trình bày trích đoạn có hai nhân vật đối đáp. Đó chính là ca ra bộ, chỉ là người ta ít gọi tên.
Với người dạy học, ca ra bộ là một ví dụ trực quan để giải thích cải lương ra đời thế nào. Cho học sinh nghe một bài tài tử ngồi ca, rồi xem cùng bài đó được hai người ca nhập vai, đối đáp có điệu bộ, rồi xem một trích đoạn cải lương có cảnh trí, các em sẽ tự thấy từng bước chuyển mà không cần học thuộc mốc năm.
Còn với người yêu cải lương, biết về ca ra bộ giúp hiểu vì sao cải lương luôn giữ được chất nhạc tài tử ở bên trong, dù hình thức sân khấu thay đổi rất nhiều qua các thời kỳ. Phía sau mỗi vở cải lương là cái chiếu đờn ca và người ca đầu tiên đã đứng dậy làm điệu bộ.
Câu hỏi thường gặp
Ca ra bộ là gì?
Ca ra bộ là lối ca bài bản tài tử kèm điệu bộ, người ca đứng và nhập vai nhân vật trong lời ca, có thể hai người chia vai ca đối đáp. Dàn đờn vẫn ngồi đờn như trong đờn ca tài tử. Đây là bước trung gian trước khi có cải lương.
Ca ra bộ xuất hiện khi nào?
Các tài liệu thống nhất là vào đầu thế kỷ XX ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Mốc năm cụ thể và người khởi xướng có nhiều cách ghi khác nhau, nên khi gặp một mốc chắc nịch, bạn nên xem tài liệu dựa vào nguồn nào.
Cải lương có nghĩa là gì?
Cải lương là từ Hán Việt, cải là sửa đổi, lương là tốt, nghĩa là sửa đổi cho tốt hơn. Tên gọi thể hiện tinh thần đổi mới so với lối hát cũ của những người làm sân khấu thời kỳ đầu.
Cải lương chịu ảnh hưởng từ những đâu?
Nguồn chính là đờn ca tài tử, qua ca ra bộ. Bên cạnh đó có ảnh hưởng của hát bội Nam Bộ, kịch nói theo lối phương Tây ở các đô thị, sân khấu của các gánh hát người Hoa, cùng với điều kiện đời sống đô thị mới hình thành.
Bài nào hay được nhắc là ca ra bộ sớm?
Nhiều tài liệu nhắc một bộ lời Tứ đại oán kể chuyện Bùi Kiệm và Nguyệt Nga trong truyện thơ Lục Vân Tiên. Tuy vậy các nguồn không thống nhất về người ca đầu tiên hay nơi diễn đầu tiên, nên chỉ coi đây là chi tiết hay được dẫn.
Ngày nay còn ca ra bộ không?
Ít được gọi tên như một hình thức riêng, nhưng lối ca có điệu bộ, hai người đối đáp vẫn thường gặp ở câu lạc bộ đờn ca tài tử, liên hoan và hội thi, nhất là khi trình bày trích đoạn. Về bản chất, đó chính là ca ra bộ.