Hát xẩm là lối hát rong của đồng bằng Bắc Bộ, do những người hát dạo, nhiều người trong số đó khiếm thị, mang đi khắp chợ, bến đò, đầu phố để kiếm sống bằng tiếng đàn, tiếng hát. Khác quan họ hát giữa bạn bè hay ca trù hát trong nhà quan viên, xẩm hát cho người qua đường. Vì vậy lời xẩm gần gũi, kể chuyện đời, khuyên răn, châm biếm, than thở thân phận.
Bài này đi vào những gì làm nên hát xẩm: gốc tích theo lời truyền, các điệu xẩm thường được kể, dàn nhạc gọn nhẹ mà người hát mang theo, đời sống nghề, và chuyện hát xẩm trở lại phố cổ những năm gần đây. Những gì chỉ là truyền thuyết được ghi rõ là "tương truyền".
Gốc tích hát xẩm theo lời truyền
Không có tài liệu nào xác định chính xác hát xẩm ra đời khi nào. Trong giới hát xẩm lưu truyền một câu chuyện về tổ nghề: tương truyền tổ xẩm là Trần Quốc Đĩnh, một hoàng tử đời Trần bị hãm hại, mù mắt, lưu lạc trong dân gian, rồi nghĩ ra cây đàn và lối hát để sống và dạy cho người khiếm thị. Câu chuyện có nhiều dị bản, và giới nghiên cứu xem đây là truyền thuyết nghề hơn là sử liệu.
Dù gốc tích chưa rõ, điều chắc chắn là đến thời cận đại, hát xẩm đã là một nghề có lề lối, có phường, có thầy trò. Người hát xẩm thường đi thành nhóm nhỏ, có khi là gia đình, vợ chồng, cha con, cùng mang đàn đi hát. Nhiều người là người khiếm thị, vì nghề hát gần như là con đường mưu sinh hiếm hoi dành cho họ trong xã hội xưa.
Truyền thuyết về tổ nghề có ý nghĩa riêng với người làm xẩm. Nó cho họ một gốc gác đáng tự hào, một ngày giỗ chung để tụ họp, và một lời nhắc rằng nghề hát rong không phải là nghề hèn. Khi nghe các nghệ nhân xẩm lớn tuổi kể chuyện, bạn sẽ thấy họ nhắc tổ nghề với sự trân trọng như mọi phường nghề khác nhắc tổ của mình.
Vùng gắn với hát xẩm nhiều nhất là đồng bằng Bắc Bộ, từ Hà Nội, Hải Dương cũ (nay thuộc Hải Phòng), Hưng Yên, Thái Bình cũ (nay thuộc Hưng Yên), tới Ninh Bình và các tỉnh lân cận. Ở mỗi nơi, giọng xẩm pha chút hơi hướng địa phương, nhưng các điệu chính thì có nhiều nét chung.
Các điệu xẩm thường được nhắc tới
Không có danh sách cố định. Các nhà sưu tầm ghi lại số điệu xẩm khác nhau, có bản kể tám điệu chính, có bản kể nhiều hơn. Những tên dưới đây là các điệu xuất hiện thường xuyên trong tư liệu và trong các chương trình phục dựng. Khi viết hay dạy, bạn nên nói đây là các điệu thường gặp chứ không phải danh mục đóng.
Thập ân. Điệu xẩm kể mười điều ơn cha mẹ, giọng chậm, buồn, thường được hát để khuyên con cháu. Lời thập ân có nhiều dị bản dân gian, phổ biến ở nhiều phường xẩm.
Huê tình. Điệu xẩm nói chuyện tình yêu, lời ca hay lấy từ ca dao, có khi pha chút trêu ghẹo. Nhịp vừa phải, dễ nghe, nên thường được hát ở chợ cho đông người dừng lại.
Chênh bong, phồn huê, riêng chung. Đây là các điệu được nhắc nhiều trong tư liệu về xẩm cổ. Mỗi điệu có khuôn giai điệu và nhịp riêng, lời có thể thay đổi. Người hát xẩm giỏi biết đặt lời mới vào khuôn điệu cũ, nên cùng một điệu có thể mang rất nhiều chuyện.
Xẩm chợ. Lối hát dùng ở chợ, nhịp rõ, lời kể dài, có khi là cả một câu chuyện có đầu có đuôi để giữ chân người nghe. Người hát nhìn phản ứng người nghe mà kéo dài hay rút ngắn.
Xẩm tàu điện. Lối xẩm hình thành ở Hà Nội khi có tàu điện đầu thế kỷ 20. Người hát lên tàu, hát trong những chặng ngắn, nên nhịp nhanh, lời gọn, nhiều khi là chuyện thời sự, chuyện phố phường. Xẩm tàu điện cho thấy hát xẩm luôn biết đổi mình theo chỗ hát.
Dàn nhạc gọn nhẹ của người hát xẩm
Người hát xẩm phải mang đàn đi bộ cả ngày, nên dàn nhạc rất gọn, thường gồm vài món trong số sau:
- Đàn nhị. Cây đàn hai dây kéo bằng cung vĩ, là nhạc cụ chủ lực của nhiều nhóm xẩm. Tiếng nhị đi sát giọng hát, có khi nhại lại câu hát vừa dứt.
- Đàn bầu. Nhiều nhóm xẩm dùng đàn bầu, và có ý kiến cho rằng đàn bầu gắn bó với xẩm từ rất sớm. Tiếng đàn bầu luyến láy hợp với giọng xẩm buồn.
- Sênh, cặp kè. Các nhạc cụ gõ bằng tre hoặc gỗ, cầm tay, giữ nhịp. Người hát có thể vừa hát vừa gõ sênh.
- Trống mảnh hoặc trống nhỏ. Giữ nhịp, làm nền cho những đoạn hát nhanh.
- Phách tre. Có nhóm dùng phách thay sênh, tiếng khô, rõ.
Một nhóm xẩm có khi chỉ hai người: một người kéo nhị, một người hát và gõ sênh. Sự gọn nhẹ này làm nên chất xẩm: tiếng nhạc mộc, mỏng, để lời ca nổi lên giữa tiếng ồn của chợ. Khi nghe xẩm được phối với dàn nhạc lớn trên sân khấu, bạn sẽ thấy nó khác xa cái chất xẩm chợ ban đầu.
Kỹ thuật kéo nhị trong xẩm cũng có những nét riêng: người đàn hay vê, luyến theo giọng hát, đôi khi đổi nhịp đột ngột để báo cho người hát chuyển đoạn. Những người học xẩm thường được dạy đàn và hát cùng lúc, vì trong nhóm nhỏ, ai cũng phải làm được nhiều việc.
Lời xẩm: từ ca dao đến chuyện thời sự
Lời hát xẩm lấy từ nhiều nguồn. Phần lớn là ca dao, thơ lục bát dân gian, những câu chuyện thơ Nôm được truyền miệng. Người hát có thể ghép nhiều câu ca dao lại thành một đoạn dài, hoặc kể lại một truyện thơ quen thuộc theo điệu xẩm.
Bên cạnh đó, xẩm có truyền thống hát về chuyện đang xảy ra. Ở thành thị đầu thế kỷ 20, người hát xẩm đặt lời về đủ thứ chuyện phố phường, lối sống mới, thói hư tật xấu. Lời xẩm có khi châm biếm sắc sảo, có khi khuyên răn rất mộc. Chính vì thế, xẩm được coi như một kiểu báo miệng của người lao động thời đó.
Thơ của các nhà thơ cũng đi vào xẩm. Nhiều người hát xẩm phổ những bài thơ được ưa chuộng vào điệu xẩm, khiến bài thơ lan rộng hơn trong dân chúng. Khi tìm hiểu, bạn sẽ gặp những bản xẩm có lời của tác giả cụ thể; với những bản ấy, nên tôn trọng quyền tác giả và ghi rõ nguồn khi giới thiệu.
Đặc điểm chung của lời xẩm là dễ hiểu. Người nghe ở chợ không có thời gian ngồi suy ngẫm điển cố như người nghe ca trù. Câu hát phải đi thẳng vào lòng người, kể được một chuyện, gợi được một cảm xúc, và đủ hấp dẫn để người ta dừng chân, móc túi cho người hát vài đồng.
Bà Hà Thị Cầu và lớp nghệ nhân xẩm cuối cùng
Giữa thế kỷ 20, hát xẩm thưa dần khỏi đường phố. Đời sống đô thị thay đổi, các phương tiện giải trí mới ra đời, người hát rong không còn chỗ đứng như trước. Nhiều nghệ nhân bỏ nghề, kiến thức về các điệu xẩm có nguy cơ mất theo họ.
Trong lớp người còn giữ được nghề, bà Hà Thị Cầu ở Ninh Bình là cái tên được nhắc nhiều nhất. Bà mất năm 2013, và trong những năm cuối đời, giọng hát của bà đã được nhiều nhà nghiên cứu, người làm âm nhạc ghi lại. Báo chí thường gọi bà là "nghệ nhân hát xẩm cuối cùng", dù cách gọi này mang tính văn chương hơn là chính xác tuyệt đối, vì vẫn có những người khác biết hát xẩm.
Giá trị của lớp nghệ nhân như bà Cầu nằm ở chỗ họ học xẩm trong môi trường gốc: hát ở chợ, ở bến, học từ cha mẹ, từ phường. Giọng của họ mang theo cách luyến, cách nảy, cách ngắt câu mà người học sau khó bắt chước nếu chỉ nhìn bản ký âm. Các bản thu âm giọng hát của những nghệ nhân này là tư liệu quan trọng để người sau học lại.
Khi tìm nghe, bạn nên chọn các bản thu được giới thiệu công khai trong các chương trình nghiên cứu hoặc tư liệu âm nhạc. Nghe giọng nghệ nhân rồi nghe lại các bản phục dựng hiện nay sẽ giúp bạn nhận ra chỗ nào là chất xẩm gốc, chỗ nào là phần được làm mới.
Hát xẩm trở lại phố: được và còn băn khoăn
Từ khoảng những năm 2000, hát xẩm được nhiều người làm nghề và nhà nghiên cứu tìm cách phục dựng. Các nhóm hát xẩm biểu diễn ở phố đi bộ, chợ đêm, các không gian văn hoá ở Hà Nội và một số tỉnh, đưa tiếng nhị, tiếng sênh trở lại với người nghe trẻ. Việc này giúp nhiều người lần đầu biết hát xẩm là gì.
Cùng với cái được, cũng có những điều đáng băn khoăn mà người trong nghề thường nói tới. Môi trường hát rong để kiếm sống không còn, nên xẩm hôm nay chủ yếu là biểu diễn. Lời ca có khi được chọn lại cho phù hợp với khán giả mới, giọng hát được đào tạo bài bản hơn nhưng có thể mất đi cái thô mộc ban đầu. Đây là chuyện chung của nhiều loại hình dân gian khi chuyển lên sân khấu.
Với người nghe, cách tốt là coi các buổi hát xẩm ở phố như một cánh cửa. Nếu thích, bạn có thể đi xa hơn: tìm nghe bản thu của nghệ nhân cũ, đọc các công trình sưu tầm, so sánh nhiều điệu xẩm với nhau. Với học sinh, sinh viên làm bài về di sản, hát xẩm là một ví dụ tốt để bàn về chuyện bảo tồn và phát huy: giữ đến đâu, đổi đến đâu thì vẫn còn là xẩm.
Nếu muốn học hát xẩm, bạn có thể tìm các câu lạc bộ âm nhạc dân tộc, nhà văn hoá hoặc trường nghệ thuật ở địa phương. Học xẩm thường bắt đầu bằng nghe và hát theo, sau đó mới tập nhạc cụ đi kèm.
Câu hỏi thường gặp
Hát xẩm có phải chỉ dành cho người khiếm thị?
Không. Trong xã hội xưa, nhiều người hát xẩm là người khiếm thị vì đây là một nghề họ có thể theo để mưu sinh. Nhưng cũng có nhiều người sáng mắt hát xẩm, và ngày nay người học xẩm đến từ mọi hoàn cảnh.
Tổ nghề hát xẩm là ai?
Tương truyền tổ nghề là Trần Quốc Đĩnh, một hoàng tử đời Trần bị mù rồi lưu lạc, nghĩ ra cây đàn và lối hát xẩm. Giới nghiên cứu coi đây là truyền thuyết nghề, có nhiều dị bản, chưa có sử liệu xác nhận chắc chắn.
Xẩm tàu điện khác xẩm chợ thế nào?
Xẩm chợ thường có lời kể dài, nhịp vừa phải để giữ chân người nghe ở chợ. Xẩm tàu điện hình thành ở Hà Nội khi có tàu điện, người hát lên tàu hát trong chặng ngắn nên nhịp nhanh, lời gọn, hay nói chuyện phố phường, thời sự.
Hát xẩm dùng những nhạc cụ nào?
Dàn nhạc xẩm gọn nhẹ, thường có đàn nhị, đàn bầu, sênh hoặc cặp kè, trống nhỏ, phách tre. Một nhóm có khi chỉ hai người, một người kéo nhị, một người hát và gõ sênh, đủ để đi bộ hát khắp chợ.
Có bao nhiêu điệu xẩm?
Không có con số cố định. Các bản sưu tầm kể số điệu khác nhau, thường nhắc thập ân, huê tình, chênh bong, phồn huê, riêng chung, xẩm chợ, xẩm tàu điện. Khi viết, nên nói đây là các điệu thường gặp chứ không phải danh sách đóng.
Nên nghe hát xẩm ở đâu?
Bạn có thể nghe ở các buổi biểu diễn tại phố đi bộ, không gian văn hoá, hoặc tìm các bản thu của nghệ nhân xẩm cũ được giới thiệu trong tư liệu âm nhạc. Nghe xen cả hai sẽ giúp nhận ra phần gốc và phần làm mới.