CoTruyen.comCổ Truyền
Dân ca và lối hát cổ truyền ba miền

Kết chạ và nhà chứa quan họ: lề lối kết bạn giữa các làng Kinh Bắc xưa

Quan họ không chỉ là hát: đó là tục kết chạ giữa hai làng, là bọn quan họ, nhà chứa và những lệ ứng xử giữ tình bạn suốt nhiều đời người.

Evening inside an old wooden house in a Bac Ninh village, a low table with betel leaves and tea cups, two groups of singers in traditional dress seen from behind

Kết chạ là tục hai làng quan họ kết nghĩa với nhau, còn nhà chứa là gia đình đứng ra đón bọn quan họ làng bạn sang chơi, hát và ăn nghỉ. Hai thiết chế này là phần ít được kể nhất khi người ta nói về quan họ, vì sân khấu hôm nay chỉ cho thấy liền anh, liền chị đứng hát. Nhưng trong làng xưa, câu hát quan họ mọc lên từ một nếp quan hệ rất chặt: ai được hát với ai, hát ở đâu, mời trầu thế nào, khi chia tay phải hát gì.

Bài này đi vào cái nếp ấy: làng kết chạ, bọn quan họ, nhà chứa, cách đón bạn và giữ bạn. Phần kỹ thuật vang, rền, nền, nảy và trình tự một canh hát chỉ nhắc vừa đủ, vì đã có nhiều bài nhập môn. Những gì còn bàn cãi giữa các nhà nghiên cứu được ghi là "theo lời các cụ trong làng" hoặc "nhiều tư liệu ghi", để bạn tự đối chiếu thêm.

Quan họ trước hết là một quan hệ giữa người với người

Chữ "quan họ" đến nay vẫn có nhiều cách giải nghĩa, và chưa cách nào được tất cả giới nghiên cứu đồng ý. Điều các tư liệu cùng thống nhất là ở vùng Kinh Bắc, quan họ không đơn thuần là một lối hát mà là một mối quan hệ được thiết lập có lễ nghi: người làng này làm bạn quan họ với người làng kia, và câu hát là phương tiện để giữ mối bạn đó. Vì vậy người trong làng thường nói "chơi quan họ" chứ ít khi nói "biểu diễn quan họ".

Hồ sơ di sản mà Việt Nam trình UNESCO, được ghi danh năm 2009 vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại, nhắc tới 49 làng quan họ gốc ở hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang cũ. Từ ngày 1/7/2025, hai tỉnh này hợp lại thành tỉnh Bắc Ninh mới, nên ngày nay gọi gọn thì làng quan họ gốc nằm trong tỉnh Bắc Ninh, trải hai bên bờ sông Cầu.

Hiểu quan họ như một quan hệ giúp bạn nghe ra nhiều điều. Lời quan họ đầy những câu chào mời, thăm hỏi, nhắn nhủ, tiễn đưa, vì nó sinh ra để phục vụ cuộc gặp giữa hai nhóm bạn. Giọng hát cũng vậy: không có ai đứng một mình hát cho đám đông nghe, mà luôn là hai người hát đôi, đối với hai người bên kia. Cả một canh hát giống một cuộc trò chuyện kéo dài suốt đêm, chỉ có điều cuộc trò chuyện ấy được nói bằng giai điệu.

Kết chạ: khi hai làng nhận nhau làm anh em

Kết chạ là gì. Chạ là một từ cổ chỉ làng, chỗ ở chung của một cộng đồng. Kết chạ là việc hai làng làm lễ kết nghĩa, coi nhau như anh em. Tục này không riêng gì quan họ, nhiều vùng ở đồng bằng Bắc Bộ cũng có làng kết chạ với nhau để giúp đỡ khi lũ lụt, khi đình đám. Ở Kinh Bắc, quan hệ kết chạ thường đi kèm quan hệ quan họ: hai làng đã kết chạ thì bọn quan họ hai bên sang chơi, hát với nhau vào dịp hội.

Kết chạ ràng buộc những gì. Theo lời kể của nhiều cụ cao niên được ghi lại trong các công trình điền dã, hai làng kết chạ có lệ sang dự hội của nhau, mang lễ vật đến đình làng bạn, và bọn quan họ hai làng được đón tiếp như người nhà. Có tư liệu ghi rằng giữa hai làng kết chạ, con trai con gái không lấy nhau vì đã coi nhau là anh em. Lệ này không đồng đều ở mọi nơi, nhưng xuất hiện đủ nhiều để thành một nét đặc trưng.

Kết chạ và ngày hội. Hội làng là lúc mối kết chạ lộ ra rõ nhất. Làng có hội thì cử người sang mời làng bạn; làng bạn mang bọn quan họ sang, hát ở sân đình, ở cửa nhà, rồi tối về nhà chứa hát canh. Nhờ vậy mùa hội xuân ở Kinh Bắc giống một chuỗi cuộc thăm viếng nối nhau, làng này vừa hội xong lại sang làng kia.

Một mối quan hệ được truyền đời. Tình kết chạ không gắn với một cá nhân mà gắn với cả làng, nên khi lớp người cũ không còn, lớp sau vẫn nhận nhau là bạn. Đây là lý do nhiều câu hát quan họ nhắc tới "người ơi" một cách trang trọng: người kia không chỉ là bạn mình, mà là đại diện cho cả một làng đã thân với làng mình từ đời ông bà.

Bọn quan họ: đơn vị nhỏ nhất của một canh hát

Trong mỗi làng, người chơi quan họ không hát rời rạc mà lập thành bọn. Một bọn thường có vài người cùng giới, khoảng bốn đến sáu người theo phần lớn tư liệu, cùng lứa, cùng học hát và đi hát với nhau. Bọn nam gọi là bọn liền anh, bọn nữ là bọn liền chị. Trong bọn có người đứng đầu, gọi theo thứ bậc như anh Hai, anh Ba, chị Hai, chị Ba, và cách gọi ấy được dùng cả trong đời thường chứ không chỉ khi hát.

Một bọn liền anh làng này kết bạn với một bọn liền chị làng kia, hoặc bọn nam với bọn nam, bọn nữ với bọn nữ, tuỳ nơi. Khi hát, mỗi bên cử ra từng cặp: một người giọng dẫn, một người giọng luồn, hát đôi với nhau. Bên kia nghe xong phải đáp lại bằng một bài cùng giọng, khác lời, hoặc theo lệ riêng của từng vùng. Đáp không được, hay đáp lệch giọng, là bên mình bị coi như thua một keo.

Muốn vào bọn, người trẻ phải học hát từ các anh chị đi trước. Có làng có lệ "ngủ bọn": những đêm học hát, cả bọn ngủ lại ở một nhà để tập, các anh chị lớn dạy từng câu, từng tiếng nảy. Cách học truyền khẩu này kéo dài nhiều năm, và một người hát được hàng trăm bài là chuyện không hiếm trong lớp nghệ nhân xưa.

Bọn quan họ cũng là một nhóm giữ lề lối. Người trong bọn chăm nhau lúc ốm đau, đi đám cưới đám giỗ của nhau. Khi một người qua đời, bọn bạn ở làng kết chạ sang viếng, có nơi hát những câu tiễn biệt. Nhìn như vậy, bọn quan họ giống một hội bạn trọn đời hơn là một ban nhạc.

Nhà chứa: căn nhà mở cửa cho bạn quan họ

Nhà chứa là gia đình trong làng đứng ra làm chủ đón bọn quan họ làng bạn. Theo các tư liệu điền dã, một nhà chứa thường có những điều kiện sau:

  • Nhà rộng, có sân và gian giữa đủ chỗ. Một canh hát có hai bọn ngồi đối diện, cộng người trong nhà và người làng đến nghe, nên căn nhà phải đủ chỗ ngồi chiếu và tiếp nước suốt đêm.
  • Chủ nhà hiếu khách và có uy tín trong làng. Nhà chứa thay mặt làng tiếp bạn, nên cách mời trầu, rót nước, dọn cơm phải chu đáo. Người làng coi việc được chọn làm nhà chứa là một vinh dự.
  • Có người trong nhà biết quan họ. Nhiều nhà chứa vốn là nhà có người từng đi hát, hiểu lề lối, biết khi nào nên mời bạn nghỉ, khi nào nên dọn cỗ.
  • Gia đình có khả năng lo cỗ. Cỗ quan họ được làm cầu kỳ, bày đẹp, ăn ít nhưng ngồi lâu. Ở nhiều làng, việc lo cỗ không do một nhà gánh mà có sự góp sức của cả bọn, cả họ.
  • Nhà ở vị trí thuận đường. Bạn quan họ đi bộ từ làng bên sang, có khi qua sông, qua đồng, nên nhà gần đình, gần đường cái là chỗ hay được chọn.

Nhà chứa không phải là một nơi kinh doanh. Không ai trả tiền cho nhà chứa; ngược lại, gia đình bỏ công bỏ của ra tiếp đãi. Đổi lại, nhà ấy có tiếng là nhà "có quan họ", và khi bọn quan họ làng mình sang làng bạn, họ cũng được một nhà chứa bên kia đón tiếp tương tự.

Một cuộc sang chơi quan họ diễn ra theo những bước nào

Lề lối mỗi làng mỗi khác, nhưng nhiều tư liệu ghi lại một trình tự chung khi bọn quan họ làng bạn sang chơi nhà chứa:

  1. Bọn khách đến cổng, chủ nhà và bọn quan họ làng mình ra đón. Hai bên chào nhau bằng lời nói trước, có nơi bằng câu hát chào.
  2. Mời trầu, mời nước. Miếng trầu têm cánh phượng và chén nước chè là nghi thức mở đầu, có những câu hát riêng dành cho việc mời trầu.
  3. Dùng cỗ quan họ. Cỗ được bày trên mâm, mỗi món một ít, hai bên vừa ăn vừa trò chuyện, vừa hát xen.
  4. Vào canh hát chính. Thường mở bằng các bài thuộc giọng lề lối, chậm và trang trọng, rồi chuyển sang giọng vặt nhiều bài, nhịp linh hoạt hơn.
  5. Hát đến khuya, có khi tới sáng. Chủ nhà tiếp nước, giữ không khí ấm cúng, nhắc bên nào hát lặp bài thì đổi.
  6. Giã bạn. Khi khách ra về, hai bên hát các bài giã bạn, lời lưu luyến, hẹn gặp lại. Có nơi bọn chủ tiễn khách ra tận đầu làng, vừa đi vừa hát.

Trình tự này cho thấy vì sao canh hát quan họ lại dài và chậm. Câu hát nằm giữa những việc tiếp đãi, chứ không đứng một mình như tiết mục trên sân khấu. Khi nghe một bài như "mời trầu" được trình diễn ở nhà hát, bạn đang thấy một mảnh nhỏ được tách ra khỏi cả một nghi thức đón bạn.

Lệ ứng xử: chơi quan họ phải giữ những gì

Người Kinh Bắc hay nói "chơi quan họ" để nhấn vào chữ chơi theo nghĩa thanh lịch, chứ không phải chơi bời. Lệ ứng xử vì vậy rất chặt. Liền anh liền chị khi đi hát ăn mặc chỉnh tề: các liền anh áo the, khăn xếp, cầm ô; các liền chị áo mớ ba mớ bảy, yếm, khăn mỏ quạ, nón quai thao. Trang phục không chỉ để đẹp mà để tỏ lòng tôn trọng làng bạn.

Lời ăn tiếng nói phải nhã nhặn. Người quan họ xưng hô "người", "em", "anh", "chị" một cách trịnh trọng, khen bạn hát hay, nhận phần kém về mình. Một bên hát sai lề lối thì bên kia không chê thẳng mà khéo léo đáp sang bài khác. Cái thú của người nghe nằm ở chỗ thấy hai bên vừa thi tài vừa nhường nhịn nhau.

Tình quan họ được hát rất nhiều, nhưng theo nhiều tư liệu, đó là tình bạn tri kỷ được nâng lên thành lời thương nhớ, không phải lời hẹn ước hôn nhân. Câu hát có thể rất da diết mà người trong cuộc vẫn giữ khoảng cách. Chính khoảng cách đó làm nên chất buồn đẹp của nhiều bài giã bạn.

Ngày nay các câu lạc bộ quan họ ở thôn, xã vẫn cố giữ một phần lề lối này: hát canh trong nhà, mời trầu, hát giã bạn. Phần kết chạ giữa làng với làng thì khó giữ nguyên vẹn hơn, vì đời sống đã khác. Nhưng ở một số nơi, việc hai làng sang dự hội của nhau vẫn được duy trì như một sợi dây nối lại.

Hát canh, hát hội và quan họ trên sân khấu khác nhau ra sao

Ba môi trường này dễ bị gộp làm một. Bảng dưới tóm những chỗ khác nhau chính, theo những gì các tư liệu mô tả:

Khía cạnhHát canh ở nhà chứaHát hội ở sân đình, bãi hộiQuan họ trên sân khấu
Người ngheHai bọn quan họ và người trong nhà, người làng ghé xemĐông người dự hội, khách các làngKhán giả mua vé hoặc dự chương trình
Độ dàiCó thể suốt đêmTừng chặng, rải theo ngày hộiVài bài, vài chục phút
Lề lốiChặt nhất: lề lối, giọng vặt, giã bạnLinh hoạt hơn, có hát trên thuyền, dưới đồiChọn bài, sắp xếp lại cho hợp chương trình
Đệm nhạcThường hát mộc, không đànHát mộcCó khi có dàn nhạc đệm và phối lại
Mục đíchGiữ tình bạn giữa hai làngVui hội, thi tài, giao lưuGiới thiệu, quảng bá di sản

Không có môi trường nào "đúng" hơn môi trường nào. Hát trên sân khấu giúp nhiều người lần đầu biết tới quan họ, trong khi hát canh giữ lại cái nếp gốc. Nếu muốn nghe gần với lối xưa, bạn có thể tìm những buổi hát canh do câu lạc bộ ở làng tổ chức vào mùa hội, ngồi im và nghe trọn một đoạn dài thay vì vài bài lẻ.

Câu hỏi thường gặp

Kết chạ có phải chỉ có ở vùng quan họ không?

Không. Tục kết chạ, tức hai làng kết nghĩa anh em, có ở nhiều nơi thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Điểm riêng của vùng Kinh Bắc là quan hệ kết chạ thường đi cùng quan hệ quan họ, nên hai làng vừa giúp nhau trong đời sống vừa sang hát với nhau vào mùa hội.

Nhà chứa quan họ có thu tiền của khách không?

Theo các tư liệu về lề lối xưa thì không. Nhà chứa là gia đình tự nguyện đứng ra tiếp đãi bạn quan họ làng khác, coi đó là vinh dự của nhà và của làng. Công sức lo cỗ nhiều khi có cả bọn quan họ và họ hàng cùng góp.

Một bọn quan họ có bao nhiêu người?

Phần lớn tư liệu mô tả một bọn có khoảng bốn đến sáu người cùng giới, cùng lứa, học hát và đi hát với nhau. Con số này không cố định ở mọi làng, có bọn ít hơn hoặc nhiều hơn tuỳ hoàn cảnh và số người theo học.

Có thật là người quan họ kết bạn với nhau thì không lấy nhau?

Nhiều tư liệu điền dã ghi nhận lệ này, coi bạn quan họ như anh em nên không kết hôn. Tuy vậy, lệ không đồng đều ở mọi làng và mọi thời, nên khi viết hay kể lại, bạn nên nói đây là lệ được ghi nhận ở nhiều nơi chứ không phải một luật chung tuyệt đối.

Quan họ được UNESCO ghi danh năm nào?

Dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009. Hồ sơ ghi nhận 49 làng quan họ gốc thuộc Bắc Ninh và Bắc Giang cũ, nay cùng nằm trong tỉnh Bắc Ninh mới.

Muốn xem hát canh theo lối cũ thì nên làm gì?

Bạn có thể hỏi nhà văn hoá thôn, câu lạc bộ quan họ ở các làng gốc về lịch hát canh trong mùa hội xuân. Khi đến, nên ăn mặc lịch sự, ngồi nghe trọn một đoạn, không chen vào giữa lúc hai bên đang đối đáp và xin phép trước khi quay phim.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183