CoTruyen.comCổ Truyền
Chèo, tuồng và hát bội

Tứ chiếng chèo Đông, Đoài, Nam, Bắc: bốn vùng chèo cổ và nét riêng của từng chiếng

Chiếng chèo là gì, bốn chiếng Đông, Đoài, Nam, Bắc nằm ở đâu trên bản đồ hôm nay, và người trong nghề phân biệt lối hát, lối diễn từng vùng ra sao.

A village communal house courtyard in the Red River Delta at dusk, a woven mat laid on brick ground, musicians seen from behind with drums, rice fields beyond

Tứ chiếng chèo là cách người trong nghề gọi bốn vùng chèo cổ quanh kinh thành Thăng Long xưa: chiếng Đông (xứ Đông, vùng Hải Dương cũ), chiếng Đoài (xứ Đoài, vùng Sơn Tây cũ), chiếng Nam (vùng Sơn Nam cũ, gồm đất Thái Bình, Nam Định, Hà Nam) và chiếng Bắc (vùng Kinh Bắc). Mỗi chiếng có những phường chèo, làng chèo riêng, và dù cùng diễn những vở cổ như nhau, lối hát, lối múa, cách pha trò ở mỗi nơi vẫn có chỗ khác.

Bài này giải thích chữ "chiếng" nghĩa là gì, bốn chiếng ứng với vùng nào trên bản đồ 34 tỉnh thành hôm nay, những nét riêng mà các nghệ nhân lớn tuổi hay nhắc tới, và vì sao khái niệm này vẫn còn giá trị khi chèo đã lên sân khấu nhà hát. Những chỗ còn tranh luận, bài nói rõ là còn tranh luận.

Chữ "chiếng" nghĩa là gì

Trong cách nói dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, "chiếng" chỉ một vùng, một phương. Câu quen thuộc "tứ chiếng" vốn dùng để chỉ bốn phương, như trong cụm "dân tứ chiếng" là người khắp nơi tụ về. Khi gắn với chèo, chữ này mang nghĩa hẹp hơn: một vùng có truyền thống hát chèo riêng, có phường hát, có lề lối được truyền từ đời này sang đời khác.

Bốn chiếng được kể theo hướng nhìn từ Thăng Long. Đông là phía đông kinh thành, Đoài là phía tây (chữ "đoài" là cách gọi hướng tây trong dân gian, gốc từ quẻ Đoài trong bát quái), Nam là phía nam, Bắc là phía bắc. Cách đặt tên này cho thấy chèo từng là sân khấu của cả vùng châu thổ bao quanh kinh đô, chứ không thuộc riêng một làng hay một tỉnh nào.

Cần nói rõ: "tứ chiếng" là khái niệm do người trong nghề và giới nghiên cứu dùng để gọi tên các vùng, không phải một đơn vị hành chính hay một hội có điều lệ. Ranh giới giữa các chiếng vì thế khá mềm. Một phường chèo ở vùng giáp ranh có thể vừa mang nét chiếng này vừa mang nét chiếng kia, và các nghệ nhân đi hát khắp nơi cũng mang lối của mình sang vùng khác.

Chèo có từ bao giờ: những điều nói được và chưa nói được

Nguồn gốc chèo đến nay vẫn được bàn nhiều. Tương truyền bà Phạm Thị Trân sống vào thời Đinh là người có công đầu với nghề hát múa và được nhiều phường chèo thờ làm bà tổ. Đây là truyền thuyết của nghề, được ghi lại trong sinh hoạt thờ tổ, chưa phải dữ kiện lịch sử có thể kiểm chứng đầy đủ.

Điều chắc chắn hơn là chèo gắn với làng quê đồng bằng Bắc Bộ, với hội đình và sân đình, với nhạc cụ dân gian như trống, sáo, nhị, và với vốn ca dao, dân ca của vùng châu thổ. Những vở chèo cổ được truyền lại phần lớn qua trí nhớ của người diễn trước khi được ghi chép thành văn bản vào thế kỷ trước.

Vì thế, khi đọc một bài viết khẳng định chèo ra đời đúng vào năm nào hay do một người cụ thể sáng lập, bạn nên đọc thận trọng. Cách nói an toàn là chèo hình thành và phát triển qua nhiều thế kỷ trong đời sống làng xã, và bốn chiếng là những vùng nơi quá trình ấy diễn ra mạnh nhất.

Bốn chiếng trên bản đồ xưa và nay

Bảng dưới đặt bốn chiếng vào vùng đất tương ứng. Cột "nay thuộc" theo sắp xếp 34 tỉnh thành có hiệu lực từ 01/7/2025; ranh giới chiếng vốn không trùng khít ranh giới tỉnh, nên đây chỉ là định vị gần đúng.

ChiếngVùng xưaNay thuộc (gần đúng)Điều người trong nghề hay nhắc
Chiếng ĐôngXứ Đông, vùng Hải Dương cũPhần lớn thuộc TP Hải PhòngLối diễn được nhiều người tả là mộc, gần với sinh hoạt làng quê
Chiếng ĐoàiXứ Đoài, vùng Sơn Tây cũPhía tây Hà Nội, một phần Phú ThọHay được nhắc với lối hát chân chất, nhiều trò nhại sinh hoạt
Chiếng NamVùng Sơn Nam: Thái Bình, Nam Định, Hà Nam cũHưng Yên (gồm Thái Bình cũ), Ninh Bình (gồm Nam Định, Hà Nam cũ)Được coi là vùng có nhiều làng chèo nhất, lối hát mượt, giàu làn điệu
Chiếng BắcVùng Kinh Bắc: Bắc Ninh, Bắc Giang cũBắc Ninh mớiGần đất quan họ, được tả là lối hát mềm, chuốt

Các mô tả ở cột cuối là nhận xét phổ biến của nghệ nhân và người nghiên cứu, không phải một bảng phân loại chính thức. Mỗi phường, mỗi người hát có giọng riêng; đừng dùng bảng này để "chấm" một đêm diễn là đúng hay sai chiếng.

Chiếng Nam và những làng chèo nổi tiếng

Trong bốn chiếng, chiếng Nam thường được nhắc nhiều nhất, vì đất Thái Bình và Nam Định cũ có mật độ làng chèo dày. Người Thái Bình hay tự hào gọi quê mình là quê lúa và quê chèo. Làng Khuốc ở vùng Đông Hưng, Thái Bình cũ (nay thuộc Hưng Yên) là một trong những làng chèo được biết đến rộng rãi, nơi chèo từng là sinh hoạt của cả làng chứ không riêng của một gánh hát.

Lối hát chiếng Nam được nhiều người tả là mượt, có nhiều làn điệu và luyến láy. Các đoàn chèo chuyên nghiệp hình thành ở vùng này từ giữa thế kỷ trước cũng góp phần đưa giọng chiếng Nam đi xa, đến mức với nhiều khán giả trẻ, "giọng chèo" mặc nhiên là giọng Thái Bình, Nam Định.

Điều đó dễ tạo ra một hiểu lầm: coi chiếng Nam là chuẩn và các chiếng khác là biến thể. Người trong nghề thường không nghĩ như vậy. Mỗi chiếng giữ những làn điệu, những lớp trò mà nơi khác không còn, và chính sự khác nhau đó là lý do người ta vẫn nói "tứ chiếng" thay vì "một lối chèo".

Chiếng Đông, chiếng Đoài, chiếng Bắc: nghe ra khác nhau ở đâu

Chiếng Đoài và trò nhại. Vùng Sơn Tây cũ được nhắc với những trò nhại, tức những tiểu phẩm ngắn bắt chước cảnh sinh hoạt như đi chợ, cày bừa, thầy đồ dạy học. Lối diễn ở đây được tả là chân chất, câu hát gần lời ăn tiếng nói, tiếng cười đến từ việc người xem nhận ra chính mình trong trò.

Chiếng Đông và lối diễn mộc. Xứ Đông có nhiều phường chèo làng gắn với hội đình. Lối diễn được tả là mộc, ít trau chuốt động tác hơn, nhưng giữ được không khí chiếu chèo sân đình, nơi người diễn và người xem cách nhau chỉ một mép chiếu.

Chiếng Bắc và hơi hướng quan họ. Kinh Bắc là đất quan họ, nên không lạ khi giọng chèo vùng này được nhiều người tả là mềm, chuốt, có cách nhả chữ gần với lối hát quan họ. Đây là ảnh hưởng qua lại giữa hai lối hát cùng vùng, không có nghĩa chèo Kinh Bắc là "chèo pha quan họ".

Khác nhau ở cả lề lối, không chỉ giọng. Ngoài giọng hát, các chiếng còn khác ở thứ tự các lớp trò trong một đêm, ở cách vai hề ra trò, ở những làn điệu được ưa dùng. Những khác biệt này phần lớn được ghi lại qua lời kể của nghệ nhân, nên khi đọc tài liệu, bạn nên để ý ai là người kể và kể về phường nào.

Từ phường chèo làng đến đoàn chèo nhà hát

Trước khi có các đoàn chuyên nghiệp, chèo sống trong phường. Phường là một nhóm người cùng làng hoặc cùng vùng, có trùm phường đứng đầu, có lệ nhận người học, có những gia đình nhiều đời theo nghề. Mùa nông nhàn, phường đi hát ở các hội làng trong vùng và cả vùng khác; mùa vụ, người hát lại về làm ruộng. Lề lối của chiếng được giữ chính trong những phường như vậy.

Khi chèo được đưa lên sân khấu nhà hát và các đoàn chuyên nghiệp được thành lập, diễn viên đến từ nhiều chiếng làm việc cùng nhau, học cùng một trường, diễn cùng một kịch bản đã được chỉnh lý. Ranh giới chiếng vì thế mờ đi trên sân khấu lớn. Nhiều nghệ nhân lớn tuổi coi đây là cái giá phải trả để chèo đến được với khán giả đông hơn; những người khác lo rằng nét riêng của từng vùng sẽ mất dần.

Hiện nay, ở nhiều làng thuộc bốn chiếng cũ vẫn có câu lạc bộ chèo do người trong làng tự lập, hát vào dịp hội đình, lễ mừng thọ hay các buổi sinh hoạt văn hoá. Chính những nơi này đang giữ lối hát địa phương, vì người hát học từ ông bà, cha mẹ trong làng chứ không học từ băng đĩa của một đoàn chuyên nghiệp.

Cách tìm hiểu chiếng chèo cho đúng

Nếu bạn làm bài nghiên cứu, viết nội dung văn hoá hay đơn giản muốn nghe ra sự khác nhau giữa các vùng, mấy nguyên tắc dưới đây giúp tránh những nhận định vội:

  • Nghe nhiều bản của cùng một làn điệu do người ở các vùng khác nhau hát, thay vì so một bản thu nhà hát với một bản thu làng.
  • Khi đọc một tài liệu nói về "nét riêng của chiếng", để ý xem người viết dựa vào lời kể của ai, phường nào, thời điểm nào.
  • Tránh dùng chiếng để xếp hạng: không có chiếng nào "chuẩn" hơn chiếng nào, chỉ có lề lối khác nhau.
  • Nếu về làng hỏi chuyện, hỏi về người dạy, về lệ phường, về những vở hay diễn ngày trước; những chi tiết đó thường quý hơn một câu khái quát.
  • Ghi chú địa danh theo cả tên cũ và tên tỉnh mới để người đọc sau này không nhầm, vì bản đồ hành chính đã thay đổi từ tháng 7/2025.

Vì sao khái niệm tứ chiếng vẫn còn ý nghĩa

Có người cho rằng nói chuyện chiếng chèo hôm nay là hoài cổ, vì chèo chuyên nghiệp đã thống nhất lối diễn. Nhưng chính khái niệm tứ chiếng nhắc người xem rằng chèo không sinh ra trên sân khấu có rèm nhung và đèn màu. Nó sinh ra ở sân đình, do người làng hát cho người làng nghe, và mỗi vùng hát theo cách của mình.

Với người làm công việc giữ gìn di sản, chiếng là một đơn vị để kiểm kê: vùng nào còn phường, còn người nhớ được những lớp trò cổ, làn điệu nào chỉ còn một vài người hát được. Với khán giả, hiểu chiếng giúp nghe chèo có chiều sâu hơn: một câu hát sử, một câu nói lối có thể được xử lý khác hẳn khi người hát đến từ một vùng khác.

Và với con cháu các làng chèo, biết làng mình thuộc chiếng nào, ông bà mình từng hát theo lối nào, là một cách để nối lại sợi dây với nghề của cha ông, dù hôm nay họ làm nghề gì.

Câu hỏi thường gặp

Tứ chiếng chèo gồm những vùng nào?

Gồm chiếng Đông (xứ Đông, vùng Hải Dương cũ), chiếng Đoài (xứ Đoài, vùng Sơn Tây cũ), chiếng Nam (vùng Sơn Nam cũ: Thái Bình, Nam Định, Hà Nam) và chiếng Bắc (vùng Kinh Bắc). Bốn hướng được tính theo vị trí so với kinh thành Thăng Long.

Chiếng chèo có phải là một tổ chức không?

Không. Chiếng là cách gọi vùng có truyền thống chèo riêng. Tổ chức thật của người hát ngày trước là phường chèo, có trùm phường, có lệ nhận học trò. Một chiếng có thể có nhiều phường, mỗi phường lại có nét riêng.

Vì sao nhiều người coi Thái Bình là quê chèo?

Vì vùng Thái Bình cũ thuộc chiếng Nam có nhiều làng chèo, trong đó làng Khuốc được biết đến rộng rãi, và nhiều diễn viên chèo chuyên nghiệp xuất thân từ vùng này. Điều đó không có nghĩa các chiếng khác kém hơn, chỉ là chiếng Nam được nhắc tới nhiều hơn.

Nghe một bản chèo có biết được thuộc chiếng nào không?

Người nghe lâu năm có thể nhận ra một số nét qua giọng, cách luyến và làn điệu được chọn, nhưng việc này khó và dễ sai, nhất là với bản thu của đoàn chuyên nghiệp có diễn viên từ nhiều vùng. Muốn chắc, nên hỏi trực tiếp người hát học từ đâu, học ai.

Sau khi sáp nhập tỉnh, các vùng chiếng chèo nay thuộc tỉnh nào?

Một cách gần đúng: vùng Hải Dương cũ nay phần lớn thuộc TP Hải Phòng, Sơn Tây cũ thuộc Hà Nội, Thái Bình cũ thuộc Hưng Yên, Nam Định và Hà Nam cũ thuộc Ninh Bình, Bắc Giang cũ nhập vào Bắc Ninh. Ranh giới chiếng vốn không trùng ranh giới tỉnh.

Còn nơi nào hát chèo theo lối làng không?

Còn. Ở nhiều làng thuộc bốn chiếng cũ vẫn có câu lạc bộ chèo do người trong làng lập, hát vào dịp hội đình hay lễ mừng thọ. Muốn nghe, bạn có thể hỏi nhà văn hoá thôn, xã hoặc người cao tuổi trong làng về lịch sinh hoạt.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183