Sân khấu tuồng có hai dòng chính: tuồng thầy (còn gọi tuồng pho) với đề tài trung nghĩa, chiến trận, triều đình, lời văn nhiều chữ Hán Việt; và tuồng đồ (tuồng hài) với đề tài đời thường, châm biếm thói xấu, lời lẽ dân dã. Hai dòng dùng chung hệ vai, lối hát và nhiều quy ước diễn, nhưng tinh thần và người xem khác nhau khá rõ.
Tuồng là cách gọi phổ biến ở miền Bắc; ở miền Trung và miền Nam, cùng loại hình được gọi là hát bộ hoặc hát bội. Bài này giải thích hai dòng tuồng, điểm qua một vài vở tiêu biểu có thể nêu chắc, nói về các vùng tuồng nổi tiếng, và bàn vì sao người xem hôm nay thường gặp tuồng đồ trước rồi mới đến tuồng thầy.
Tuồng, hát bộ, hát bội: một loại hình, nhiều tên gọi
Cùng một loại hình sân khấu, người miền Bắc gọi là tuồng, người miền Trung và Nam Bộ gọi là hát bộ hay hát bội. Về nguồn gốc chữ "bội" và chữ "bộ" có nhiều cách giải thích khác nhau, chẳng hạn gắn với điệu bộ trên sân khấu hay với việc bày ra, phô diễn. Giới nghiên cứu chưa thống nhất, nên bạn nên coi các cách giải thích ấy là giả thuyết.
Về nguồn gốc của chính loại hình, một thuyết hay được nhắc là sử cũ có chép chuyện một người tên Lý Nguyên Cát, bị bắt trong thời kháng chiến chống quân Nguyên, đã dạy người Việt diễn các tích truyện có hát và hoá trang. Nhiều nhà nghiên cứu khác nhấn mạnh rằng tuồng còn kế thừa các hình thức diễn xướng bản địa có từ trước. Hai cách nhìn không loại trừ nhau.
Điều chắc chắn hơn là tuồng phát triển mạnh dưới thời Nguyễn, được triều đình quan tâm, có nhà hát trong cung ở kinh thành Huế, và lan rộng ở các tỉnh miền Trung rồi vào Nam Bộ. Ở mỗi vùng, tuồng mang thêm sắc thái riêng về giọng nói, lối hát và cả không gian diễn.
Tuồng thầy và tuồng đồ khác nhau ở đâu
Bảng dưới so sánh hai dòng theo những tiêu chí người xem dễ nhận ra nhất. Đây là khái quát; có những vở nằm ở giữa, mang nét của cả hai.
| Tiêu chí | Tuồng thầy (tuồng pho) | Tuồng đồ (tuồng hài) |
|---|---|---|
| Đề tài | Trung nghĩa, chiến trận, tranh giành ngôi báu, đấu tranh giữa trung thần và gian thần | Đời thường, quan lại tham lam, kẻ háo sắc, thói hư tật xấu ở làng ở huyện |
| Nhân vật | Vua, hoàng hậu, tướng, quan, trung thần, nịnh thần | Quan huyện, chức dịch, thầy bói, người dân, người buôn bán |
| Ngôn ngữ | Nhiều chữ Hán Việt, điển cố, câu văn biền ngẫu | Lời thường, tiếng địa phương, chơi chữ, nói lái |
| Tinh thần | Trang nghiêm, bi tráng | Châm biếm, hài hước |
| Người xem xưa | Quan lại, nho sĩ và cả dân làng trong dịp lễ lớn | Dân làng, người lao động |
| Độ dài | Có vở rất dài, diễn nhiều đêm | Thường ngắn hơn, dễ dựng trích đoạn |
Hai dòng vẫn dùng chung kỹ thuật diễn của tuồng: hệ vai, lối vẽ mặt, các lối hát, động tác ước lệ. Người đóng giỏi thường diễn được cả hai, dù thiên về một bên.
Tuồng thầy: sân khấu của trung nghĩa
Tuồng thầy là dòng tuồng mang tính bác học. Tích truyện nhiều khi lấy từ truyện lịch sử Trung Hoa hoặc được các nhà nho sáng tác theo khuôn ấy, xoay quanh cuộc đấu tranh giữa trung thần và gian thần, chuyện giữ ngôi chính thống, chuyện người tướng hy sinh vì nghĩa. Nhân vật chính diện thường là những người trung trực, sẵn sàng chết để giữ trọn đạo nghĩa.
Lời văn tuồng thầy dày đặc chữ Hán Việt và điển cố. Người xem không có vốn chữ nghĩa có thể khó theo kịp lời, nhưng vẫn hiểu câu chuyện nhờ hệ vai, vẽ mặt và lối hát: chỉ cần thấy nhân vật mặt đỏ hát khách hùng tráng là biết đây là người trung dũng đang ra trận.
Một số vở tuồng thầy rất dài, ngày trước có thể diễn nhiều đêm liền. Ngày nay các đoàn thường chọn những lớp tiêu biểu để diễn trích đoạn. Sơn Hậu là một trong những vở tuồng cổ hay được nhắc tới nhất, với chủ đề bảo vệ dòng chính thống trước kẻ cướp ngôi; các lớp của vở thường được dùng làm bài tập cho diễn viên tuồng.
Tuồng đồ: tiếng cười của làng xã
Tuồng đồ đi theo hướng khác hẳn. Thay vì chuyện triều đình, tuồng đồ kể chuyện quan huyện, chức dịch, người buôn bán, những kẻ háo sắc, tham tiền. Tiếng cười là vũ khí chính, nhắm vào thói hư tật xấu của những người có chút quyền hành ở cấp huyện, cấp làng.
Vở tuồng đồ được biết đến rộng rãi nhất có lẽ là Nghêu Sò Ốc Hến. Câu chuyện xoay quanh Thị Hến, người phụ nữ góa chồng sống bằng nghề mò hến, và những kẻ có chức, có chữ trong vùng lần lượt tìm cách tán tỉnh cô. Qua những tình huống trớ trêu, cái háo sắc và giả dối của họ bị lật tẩy, còn Thị Hến tỏ ra khôn ngoan hơn tất cả. Các bản dựng khác nhau ở chi tiết, nhưng tinh thần châm biếm được giữ.
Ngôn ngữ tuồng đồ dân dã, nhiều chơi chữ và tiếng địa phương miền Trung. Người xem không cần vốn chữ Hán vẫn cười được. Chính vì vậy, với nhiều khán giả trẻ hôm nay, một trích đoạn tuồng đồ thường là cửa vào dễ nhất để làm quen với tuồng.
Đất tuồng: Bình Định cũ, Quảng Nam cũ và kinh thành Huế
Khi nói đến tuồng, người trong nghề hay nhắc tới vùng Bình Định cũ, nay thuộc tỉnh Gia Lai theo sắp xếp từ tháng 7/2025. Vùng này được gọi là đất tuồng, nơi hát bội từng có mặt trong hầu hết các dịp lễ làng và nơi có nhiều gánh hát truyền đời. Đào Tấn (1845–1907), người Bình Định cũ, vừa làm quan dưới triều Nguyễn vừa sáng tác và chỉnh lý nhiều vở tuồng, được giới tuồng tôn là hậu tổ của nghề.
Vùng Quảng Nam cũ, nay thuộc thành phố Đà Nẵng, cũng là một đất tuồng lớn với lối hát và giọng nói riêng. Ở Huế, tuồng từng được diễn trong cung và mang dấu ấn cung đình về trang phục, nghi thức. Ở Nam Bộ, hát bội gắn chặt với sinh hoạt đình làng và lễ Kỳ yên.
Những khác biệt vùng miền này tương tự chuyện tứ chiếng của chèo: cùng một loại hình, mỗi nơi giữ những nét riêng, và các nghệ nhân ở mỗi vùng tự hào về lối của mình. Khi đọc tài liệu về tuồng, nên để ý tài liệu viết về tuồng vùng nào.
Hát bội trong đời sống làng miền Trung xưa
Ở nhiều làng miền Trung ngày trước, hát bội không phải thứ chỉ quan lại mới được xem. Dịp lễ đình, lễ cầu an, mừng được mùa, làng mời gánh hát về dựng rạp tạm, và cả làng kéo nhau đi xem. Người già thuộc tích, trẻ con thuộc mặt nhân vật, nhiều người đi làm đồng còn ngâm nga vài câu hát khách, hát nam đã nghe từ đêm trước.
Gánh hát bội ngày trước thường là những nhóm nghệ nhân đi diễn nhiều nơi, có ông bầu đứng đầu, có người chuyên đóng từng loại vai. Cuộc sống của người hát rày đây mai đó, vất vả, nhưng được dân làng quý trọng. Trẻ em trong vùng thích theo xem các gánh hát, và nhiều người về sau theo nghề cũng bắt đầu từ những đêm đứng xem như thế.
Không khí ấy giải thích vì sao tuồng đồ có đất sống mạnh ở miền Trung: người xem là nông dân, ngư dân, người buôn bán, họ muốn cười vào những kẻ có quyền ở huyện, ở làng. Còn tuồng thầy, với những vở trung nghĩa, đáp ứng nhu cầu được xem những câu chuyện lớn, những nhân vật phi thường, trong một đời sống vốn nhiều lam lũ.
Xem tuồng hôm nay: nên bắt đầu từ đâu
Bắt đầu với một trích đoạn tuồng đồ. Câu chuyện ngắn, tiếng cười dễ hiểu, giúp bạn làm quen với lối hát, lối diễn của tuồng mà không phải theo dõi một tích dài.
Đọc tóm tích trước với tuồng thầy. Tuồng thầy nhiều nhân vật, nhiều chữ Hán Việt; đọc tích trước giúp bạn tập trung vào cách diễn thay vì đoán ai là ai.
Nhìn mặt nhân vật. Màu vẽ mặt cho biết khá nhiều về tính cách nhân vật, nhất là ở tuồng thầy. Đây là chìa khoá đọc nhanh nhất khi chưa quen lời.
Nghe trống. Trống trong tuồng không chỉ giữ nhịp mà còn tạo không khí trận mạc, căng thẳng hay bi thương. Nghe trống giúp bạn hiểu tâm trạng của lớp diễn.
Kiên nhẫn với nhịp chậm. Nhiều lớp tuồng thầy có nhịp chậm, động tác trang nghiêm. Đây là chủ ý của nghệ thuật, không phải sự chậm chạp; nhịp chậm làm nổi những khoảnh khắc cao trào.
Những điều nên tránh khi viết hoặc nói về tuồng
Tuồng là đề tài dễ bị viết sai vì ít tài liệu phổ thông. Nếu bạn làm bài, viết nội dung hay giới thiệu cho người khác, mấy điều sau giúp tránh nhầm:
- Không gán năm ra đời cụ thể cho tuồng; nguồn gốc còn nhiều thuyết.
- Không mặc định mọi vở tuồng đều là tuồng thầy; tuồng đồ là một dòng quan trọng với tinh thần riêng.
- Không nhầm tuồng với cải lương: cải lương ra đời muộn hơn ở Nam Bộ, có hệ thống bài bản, lối hát và lối diễn khác hẳn.
- Ghi tên vùng theo cả tên cũ và tên tỉnh mới, ví dụ vùng Bình Định cũ nay thuộc Gia Lai.
- Khi nêu tên vở, tên nhân vật, chỉ nêu những gì có thể kiểm chứng; tóm tích ngắn, không chép lời vở.
Nếu có điều kiện, nghe trực tiếp một nghệ nhân tuồng kể về vở mình từng diễn sẽ cho bạn nhiều chi tiết mà sách không ghi: vở nào hay diễn ở đình nào, lớp nào khó, thầy nào dạy vai nào. Những ký ức ấy là một phần của di sản, và đang mất dần cùng thế hệ nghệ nhân lớn tuổi.
Câu hỏi thường gặp
Tuồng và hát bội có phải là một không?
Phải. Tuồng là cách gọi phổ biến ở miền Bắc, còn ở miền Trung và Nam Bộ cùng loại hình này được gọi là hát bộ hoặc hát bội. Mỗi vùng có sắc thái riêng về giọng và lối diễn.
Tuồng thầy khác tuồng đồ thế nào?
Tuồng thầy kể chuyện trung nghĩa, chiến trận, triều đình, lời văn nhiều chữ Hán Việt, tinh thần trang nghiêm. Tuồng đồ kể chuyện đời thường, châm biếm thói xấu của quan lại, chức dịch, lời lẽ dân dã và hài hước.
Nghêu Sò Ốc Hến thuộc dòng tuồng nào?
Nghêu Sò Ốc Hến là vở tuồng đồ, tức tuồng hài, được biết đến rộng rãi. Vở xoay quanh Thị Hến và những kẻ có chức, có chữ tìm cách tán tỉnh cô, qua đó châm biếm thói háo sắc, giả dối.
Đào Tấn là ai?
Đào Tấn (1845–1907) là người Bình Định cũ, làm quan dưới triều Nguyễn và sáng tác, chỉnh lý nhiều vở tuồng. Giới tuồng tôn ông là hậu tổ của nghề, gắn với vùng đất tuồng Bình Định cũ, nay thuộc Gia Lai.
Tuồng có nguồn gốc từ Trung Hoa không?
Có thuyết gắn tuồng với một người tên Lý Nguyên Cát thời Trần, nhưng nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh tuồng còn kế thừa diễn xướng bản địa. Nguồn gốc vẫn được bàn luận; không nên khẳng định một mốc duy nhất.
Người mới nên xem tuồng nào trước?
Nên bắt đầu với một trích đoạn tuồng đồ vì ngắn, vui và dễ hiểu. Sau đó, đọc tóm tích trước rồi xem một trích đoạn tuồng thầy để cảm được vẻ bi tráng của dòng tuồng này.