Vở cải lương thường được chia thành hai dòng lớn: tuồng tích, kể chuyện xưa lấy từ sử, dã sử, truyện cổ, tích Trung Hoa; và tuồng xã hội, kể chuyện đời sống đương thời của người Việt. Hai dòng khác nhau từ đề tài, trang phục, cảnh trí, cách diễn đến cách dùng bài bản, và mỗi dòng có lượng khán giả trung thành riêng.
Bài này đặt hai dòng cạnh nhau để người xem hiểu mình đang xem loại vở nào và nên chú ý gì. Tên vở chỉ nêu khi chắc chắn, không tóm tắt dài hay chép lời vở; không đánh giá vở nào hay hơn, đoàn nào giỏi hơn. Mục đích là giúp bạn có khung để xem cải lương sâu hơn.
Tuồng tích: chuyện xưa trên sân khấu mới
Tuồng tích là những vở lấy đề tài từ quá khứ: lịch sử Việt Nam, dã sử, truyện thơ Nôm, truyện cổ tích, và rất nhiều tích truyện Trung Hoa vốn quen với khán giả Nam Bộ qua sách, qua hát bội. Nhân vật là vua quan, tướng sĩ, tiểu thư, thư sinh, hiệp khách; xung đột thường là trung – nịnh, tình – nghĩa, nước – nhà.
Tuồng tích kế thừa khá nhiều từ hát bội: trang phục cầu kỳ với áo mão, đai, hia; một số động tác ước lệ như cưỡi ngựa bằng roi, múa võ; cảnh triều đình, cảnh chiến trận. Tuy vậy ước lệ trong tuồng tích cải lương nhẹ hơn hát bội nhiều, diễn viên vẫn ca bài bản tài tử và vọng cổ, diễn xuất có phần tự nhiên hơn.
Trong dòng tuồng tích có những nhánh riêng mà người xem lâu năm hay phân biệt. Tuồng dã sử lấy chuyện xưa nhưng phần lớn là hư cấu, không gắn với sự kiện sử thật. Cải lương Hồ Quảng chịu ảnh hưởng sân khấu Quảng Đông, có trang phục, động tác và một số điệu nhạc riêng, đề tài phần nhiều là tích Trung Hoa. Ngoài ra có các vở lấy đề tài lịch sử Việt Nam, kể về những nhân vật có thật, đòi hỏi người soạn phải cẩn trọng với sử liệu.
Tuồng xã hội: chuyện của người đang sống
Tuồng xã hội lấy đề tài từ đời sống đương thời: chuyện gia đình, tình yêu bị ngăn cấm, cảnh nghèo, người đi xa, phận người phụ nữ, mâu thuẫn giàu nghèo, mẹ chồng nàng dâu, quê và phố. Nhân vật mặc trang phục thường ngày của thời vở diễn, áo bà ba, áo dài, áo sơ mi; cảnh trí là nhà lá, bến sông, phố chợ, phòng khách.
Một ví dụ quen thuộc của dòng này là vở Đời cô Lựu của soạn giả Trần Hữu Trang, kể về số phận một người phụ nữ nghèo. Vở thường được nhắc khi bàn về tuồng xã hội vì cách đặt vấn đề thân phận con người trong hoàn cảnh xã hội. Ngoài vở này, dòng tuồng xã hội có rất nhiều vở khác qua các thời kỳ, mỗi thời phản ánh những vấn đề của thời mình.
Diễn xuất trong tuồng xã hội gần với diễn xuất kịch nói: cử chỉ đời thường, lời thoại nhiều, ít động tác ước lệ. Khán giả nhìn thấy những con người giống mình, giống hàng xóm mình. Đây là lý do tuồng xã hội có sức lay động mạnh với người xem bình dân, và nhiều đoạn vọng cổ trong tuồng xã hội trở thành bài ca được thuộc lòng ngoài sân khấu.
So sánh nhanh hai dòng vở
Bảng dưới gom những khác biệt người xem dễ thấy nhất. Đây là khái quát; có những vở pha trộn hoặc nằm giữa hai dòng.
| Điểm so | Tuồng tích | Tuồng xã hội |
|---|---|---|
| Đề tài | Lịch sử, dã sử, truyện cổ, tích Trung Hoa | Đời sống đương thời của người Việt |
| Nhân vật | Vua quan, tướng, tiểu thư, thư sinh, hiệp khách | Người nông dân, người làm thuê, gia đình thành thị, người đi xa |
| Trang phục | Áo mão, đai, hia, cầu kỳ, nhiều màu | Trang phục thường ngày của thời vở diễn |
| Cảnh trí | Cung điện, dinh phủ, chiến trường, núi rừng | Nhà lá, bến sông, phố chợ, phòng khách |
| Diễn xuất | Có động tác ước lệ, múa võ, đi đứng có lề | Gần với kịch nói, cử chỉ đời thường |
| Bài bản | Nhiều bài bản trang trọng, có nhạc lễ cho cảnh triều đình | Vọng cổ và các bài bản tình cảm chiếm phần lớn |
| Ngôn ngữ | Có nhiều từ Hán Việt, câu văn trau chuốt | Lời thoại gần với tiếng nói hằng ngày |
Hai dòng không phải đối thủ. Nhiều đoàn diễn cả hai, nhiều diễn viên giỏi ở cả hai, và khán giả cải lương thường xem cả hai tuỳ dịp.
Xem tuồng tích, nên chú ý gì
Hiểu tích trước khi xem. Nhiều vở tuồng tích dựa trên những câu chuyện mà khán giả lớn tuổi đã quen. Người xem trẻ nên đọc tóm tắt tích trước, để không bị lạc giữa các nhân vật có tên Hán Việt dài.
Nhìn trang phục để nhận vai. Màu áo, kiểu mão, cách đi đứng cho biết nhân vật là quan văn hay tướng võ, người trung hay kẻ gian. Đây là phần kế thừa từ hát bội, giúp người xem nhận vai nhanh.
Nghe bài bản theo cảnh. Cảnh triều đình hay có nhạc trang nghiêm; cảnh chiến trận có trống, có nhạc dồn; cảnh tình cảm chuyển sang bài bản mềm và vọng cổ. Theo dõi sự chuyển nhạc là cách hiểu nhịp vở.
Để ý vai trung và vai nịnh. Tuồng tích thường dựng xung đột rõ giữa người trung và kẻ nịnh, người nghĩa và kẻ bất nghĩa. Cách diễn viên đóng vai nịnh làm khán giả ghét mà vẫn phục tài là một nét nghề đáng xem.
Thưởng thức phần võ. Những vở có cảnh đánh võ trên sân khấu đòi hỏi diễn viên có công phu tập luyện. Đây là phần trình diễn, không phải võ thật, và là một nét riêng của tuồng tích mà tuồng xã hội không có.
Xem tuồng xã hội, nên chú ý gì
Đặt vở vào thời của nó. Mỗi vở tuồng xã hội phản ánh vấn đề của thời nó được viết. Biết vở ra đời trong bối cảnh nào giúp hiểu vì sao nhân vật hành xử như vậy, và vì sao khán giả thời đó xúc động.
Nghe vọng cổ kể chuyện. Trong tuồng xã hội, những đoạn vọng cổ thường là lúc nhân vật giãi bày nỗi lòng sâu nhất. Lời ca ở đây thường giản dị, gần lời nói, nhưng được đặt khớp từng chữ với nhịp.
Chú ý vai phụ. Các vai hề, vai mẹ, vai người hàng xóm trong tuồng xã hội thường rất đời, có những đoạn thoại hài làm cân lại không khí buồn. Đây là nơi diễn viên có nghề thể hiện nhiều.
Nhận ra giọng địa phương. Tuồng xã hội Nam Bộ dùng nhiều tiếng nói miền Tây, cách xưng hô, cách nói đùa của người sông nước. Người xem ở miền khác sẽ thấy thú vị khi để ý những chữ, những câu nói đặc trưng này; đó cũng là một lớp tư liệu về tiếng nói của một thời.
Theo dõi nhịp buồn – vui. Một vở tuồng xã hội hay thường xen kẽ cảnh nặng và cảnh nhẹ, để người xem không bị ngợp. Để ý soạn giả đặt cảnh vui ở đâu sau một cảnh buồn sẽ thấy tay nghề dựng vở.
Nghĩ về hôm nay. Nhiều vấn đề trong tuồng xã hội cũ vẫn còn tính thời sự: thân phận phụ nữ, khoảng cách giàu nghèo, quê và phố. Xem xong, chính câu hỏi đặt ra cho hôm nay là phần còn lại của vở.
Nhạc trong hai dòng vở
Cả hai dòng đều dùng hệ bài bản tài tử và vọng cổ, nhưng cách phân bổ khác nhau rõ. Tuồng tích có nhiều cảnh nghi thức, chiến trận, triều đình, nên dàn nhạc hay dùng những đoạn nhạc trang nghiêm, nhạc dồn cho cảnh đánh, có khi mượn bài lễ làm nền. Các bài bản hơi Bắc, hơi Quảng xuất hiện khá nhiều, cho cảm giác đường hoàng hoặc khẩn trương. Ở cải lương Hồ Quảng, có thêm những điệu nhạc mang màu Quảng Đông, nghe khác hẳn bài tài tử.
Tuồng xã hội thì nghiêng hẳn về các bài bản tình cảm và vọng cổ. Những cảnh gia đình, chia ly, nhớ thương được dồn vào hơi Nam, hơi Oán và vọng cổ nhịp chậm. Dàn nhạc của tuồng xã hội ở nhiều thời kỳ còn có thêm nhạc cụ phương Tây cho một số cảnh, tuỳ cách dàn dựng của từng đoàn và từng thời.
Người xem có thể dùng tai để nhận dòng vở ngay cả khi chưa nhìn sân khấu: nếu nghe nhiều trống, nhiều đoạn nhạc trang trọng, khả năng cao là tuồng tích; nếu nghe nhiều vọng cổ, nhiều đoạn ca mùi kéo dài, khả năng cao là tuồng xã hội. Đây là cách nghe vui khi theo dõi cải lương qua sóng phát thanh, nơi người nghe chỉ có âm thanh để dựng lại cả vở trong đầu.
Hai dòng vở trong đời sống sân khấu hôm nay
Các đoàn cải lương hôm nay vẫn diễn cả hai dòng, có khi dựng lại các vở cũ, có khi dàn dựng vở mới. Tuồng tích được ưa ở những dịp lễ hội, với cảnh trí và trang phục đẹp; tuồng xã hội được ưa khi đề tài chạm tới những vấn đề người xem đang sống. Trên các nền tảng xem trực tuyến, các trích đoạn của cả hai dòng đều có người xem đông.
Với người làm giáo dục và nội dung văn hoá, việc phân biệt hai dòng giúp giải thích cho người xem trẻ rằng cải lương không chỉ có một kiểu. Học sinh có thể bắt đầu bằng tuồng xã hội vì dễ hiểu, rồi chuyển sang tuồng tích khi đã quen bài bản và cách diễn.
Khi chọn vở để xem, bạn có thể hỏi một câu đơn giản: mình muốn xem chuyện xưa với áo mão, võ, triều đình, hay muốn xem chuyện của người đang sống. Câu trả lời sẽ dẫn bạn tới đúng dòng vở. Và sau vài lần xem cả hai, bạn sẽ thấy cùng một hệ bài bản tài tử có thể chở cả hai thế giới rất khác nhau, đó là sức sống của cải lương.
Câu hỏi thường gặp
Tuồng tích trong cải lương là gì?
Là những vở lấy đề tài từ quá khứ: lịch sử, dã sử, truyện cổ, tích Trung Hoa. Nhân vật là vua quan, tướng sĩ, tiểu thư, thư sinh; trang phục áo mão cầu kỳ; có động tác ước lệ và cảnh võ kế thừa từ hát bội nhưng nhẹ hơn.
Tuồng xã hội trong cải lương là gì?
Là những vở lấy đề tài đời sống đương thời: gia đình, tình yêu, cảnh nghèo, thân phận con người. Trang phục và cảnh trí thường ngày, diễn xuất gần kịch nói. Vở Đời cô Lựu của soạn giả Trần Hữu Trang là một ví dụ hay được nhắc.
Cải lương Hồ Quảng thuộc dòng nào?
Cải lương Hồ Quảng thường được xếp vào dòng tuồng tích, chịu ảnh hưởng sân khấu Quảng Đông với trang phục, động tác và một số điệu nhạc riêng, đề tài phần nhiều là tích Trung Hoa.
Tuồng dã sử khác tuồng lịch sử thế nào?
Tuồng dã sử lấy bối cảnh xưa nhưng câu chuyện phần lớn là hư cấu, không gắn với sự kiện có thật. Tuồng lịch sử kể về nhân vật, sự kiện có thật, nên người soạn phải cẩn trọng với sử liệu và người xem nên phân biệt phần sử với phần hư cấu.
Người mới xem cải lương nên bắt đầu bằng dòng nào?
Tuồng xã hội thường dễ vào hơn vì đề tài gần gũi, lời thoại gần tiếng nói hằng ngày. Khi đã quen bài bản và cách diễn, chuyển sang tuồng tích sẽ dễ theo dõi hơn; đọc tóm tắt tích trước khi xem cũng giúp ích nhiều.
Một vở có thể vừa là tuồng tích vừa là tuồng xã hội không?
Có những vở pha trộn hoặc nằm giữa hai dòng, ví dụ chuyện đặt ở thời xưa nhưng đặt vấn đề như đời thường. Hai dòng là cách chia để dễ hiểu, không phải ranh giới cứng; nhiều đoàn diễn và diễn viên giỏi cả hai.