Hát nói là thể cách được hát nhiều nhất trong ca trù, đồng thời là một thể thơ riêng của văn học Việt Nam, có khổ, có vần, có mưỡu đầu và mưỡu hậu. Muốn nghe hát nói cho ra, bạn cần biết cả hai mặt: bài thơ được dựng như thế nào, và đào nương, kép đàn, quan viên cầm chầu cùng nhau biến bài thơ ấy thành một buổi hát ra sao.
Bài này không giới thiệu ca trù từ đầu. Nếu bạn đã biết ca trù có đào nương gõ phách, kép gảy đàn đáy và người cầm trống chầu, thì đây là bước tiếp theo: đi vào thể hát nói, đọc cấu trúc bài, hiểu vì sao nhiều nhà nho thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 chọn hát nói để gửi chí, gửi tình. Bài không trích nguyên văn bài hát nói của tác giả cụ thể; bạn có thể tìm đọc trong các tuyển tập thơ ca trù đã xuất bản.
Hát nói đứng ở đâu trong ca trù
Ca trù, còn gọi là hát ả đào hay hát cô đầu theo những tên gọi ở từng thời, có nhiều thể cách khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã thống kê được vài chục thể, có thể dùng trong hát thờ ở đình, hát chơi ở nhà quan viên, hát thi. Trong số đó, hát nói là thể được hát nhiều nhất trong các buổi hát chơi, và cũng là thể còn được lưu giữ nhiều bài nhất.
Lý do một phần nằm ở chỗ hát nói có lời tự do hơn. Nhiều thể cách khác gắn với nghi lễ hoặc có lời cố định, còn hát nói cho phép người viết đưa vào đủ thứ tâm sự: chí làm trai, thú nhàn, nỗi chán đời, cuộc rượu, tình bạn, tình yêu. Mỗi khi có một bài hát nói mới, đào nương có thể học và đem ra hát ngay, vì cách hát dựa trên khuôn chung chứ không phải giai điệu riêng cho từng bài.
Ca trù được UNESCO ghi danh năm 2009 vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Danh sách khẩn cấp nghĩa là di sản đang có nguy cơ mai một và cần những biện pháp cụ thể để giữ. Với hát nói, nguy cơ đó thấy rõ ở chỗ người hát được đúng lối, người đàn đáy theo được và người cầm chầu hiểu nghề đều không nhiều.
Một điểm cần phân biệt: hát nói có thể được đọc như thơ trên giấy, và nhiều sách văn học trích hát nói như một thể thơ. Nhưng thơ hát nói được viết ra để hát, nên khi đọc mà không nghĩ tới tiếng phách, tiếng đàn, bạn sẽ thấy có câu dài câu ngắn bất thường, có chỗ ngắt khó hiểu. Những chỗ ấy chính là chỗ để giọng hát và nhạc cụ thở.
Cấu trúc một bài hát nói chuẩn
Các sách nghiên cứu ca trù thường mô tả bài hát nói chuẩn theo khuôn dưới đây. Trên thực tế có nhiều bài phá cách, thêm hoặc bớt câu:
| Phần | Số câu thường gặp | Đặc điểm |
|---|---|---|
| Mưỡu đầu | 2 hoặc 4 câu | Thơ lục bát hoặc song thất lục bát, ngâm trước khi vào phần hát nói; có bài không có mưỡu |
| Khổ đầu | 4 câu | Mở ý, câu dài ngắn linh hoạt, thường từ bảy đến tám chữ hoặc hơn |
| Khổ giữa | 4 câu | Phát triển ý; hay có một cặp câu thơ chữ Hán hoặc câu thơ ngũ, thất ngôn đặt vào |
| Khổ xếp | 3 câu | Kết ý; câu cuối bài thường là câu sáu chữ, gọn và dứt |
| Mưỡu hậu | 2 câu hoặc hơn | Lục bát, đặt sau phần hát nói, không phải bài nào cũng có |
Bài đủ 11 câu chia 4, 4, 3 thường được gọi là bài đủ khổ. Bài thêm một hoặc nhiều khổ bốn câu ở giữa gọi là hát nói dôi khổ; bài thiếu khổ gọi là thiếu khổ. Các tên gọi này có trong nhiều sách về ca trù, nhưng mỗi tác giả có thể dùng chữ hơi khác, nên khi trích dẫn bạn nên ghi rõ đang theo sách nào.
Điều đáng chú ý là hát nói không gò số chữ mỗi câu như thơ Đường. Câu có thể kéo dài khi người viết cần, miễn là giữ được vần và nhịp. Sự tự do đó khiến hát nói gần với lời nói thường, đúng như cái tên của nó, mà vẫn có khuôn để đào nương hát theo.
Vì sao các nhà nho mê hát nói
Nhìn vào danh sách tác giả hát nói được lưu truyền, bạn sẽ thấy nhiều tên quen trong văn học sử: Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến, rồi Tản Đà ở đầu thế kỷ 20. Họ đều là nhà nho, học chữ Hán, đi thi, làm quan hoặc từ quan. Hát nói trở thành nơi họ nói những điều mà thơ chữ Hán trang nghiêm không tiện nói.
Thể thơ cho phép trộn chữ Hán với lời Việt rất tự nhiên. Một câu điển cố đặt cạnh một câu nói thẳng như lời thường, tạo ra cái giọng vừa sang vừa suồng sã. Người nghe trong giới quan viên hiểu điển, nên khi đào nương hát tới câu chữ Hán, họ nhận ra ngay ý tác giả, và tiếng trống chầu khen vang lên đúng lúc.
Nội dung hát nói xoay quanh vài mạch lớn. Có mạch chí làm trai, khẳng định phải làm nên sự nghiệp. Có mạch thú nhàn, coi nhẹ danh lợi, vui với rượu, thơ, đàn, cờ. Có mạch tình, nhớ người, tiếc tuổi trẻ. Nhiều bài pha cả ba. Chính sự pha trộn đó làm hát nói khác với dân ca: đây là tiếng nói của một tầng lớp có học, ngồi nghe trong không gian riêng, không phải tiếng hát giữa đồng hay giữa hội.
Bạn nên nhớ rằng bản văn hát nói của các tác giả cổ thường có nhiều dị bản, vì được chép tay, truyền miệng qua nhiều đời đào nương. Khi đọc hai tuyển tập khác nhau thấy chữ lệch nhau, đó là chuyện bình thường. Nếu cần trích để làm bài học hay bài viết, nên ghi rõ tuyển tập và người hiệu đính.
Ba người làm nên một bài hát nói
Đào nương: giọng hát và tiếng phách. Đào nương vừa hát vừa gõ phách. Bộ phách gồm một bàn phách và hai dùi, gõ ra các tiếng khác nhau để giữ nhịp cho cả buổi. Giọng ca trù có lối nảy hạt, ngân trong cổ, nghe "ém" chứ không phô ra ngoài. Khi hát nói, đào nương thường ngâm phần mưỡu chậm rãi, rồi vào phần hát nói với nhịp phách đều, có những chỗ dồn, chỗ buông.
Kép đàn: tiếng đàn đáy đi theo lời. Kép gảy đàn đáy, cây đàn cần rất dài, ba dây, gắn liền với ca trù. Tiếng đàn không đệm hoà âm như nhạc phương Tây mà đi song song, đón câu, lót câu, điền vào chỗ giọng hát nghỉ. Kép giỏi nghe đào nương thở mà biết khi nào chờ, khi nào dẫn.
Quan viên cầm chầu: người nghe có tiếng nói. Người cầm chầu ngồi với chiếc trống nhỏ, đánh vào mặt trống và tang trống để khen hoặc nhắc. Tiếng chầu không chỉ là nhạc đệm mà là lời bình phẩm của người nghe sành. Đánh chầu đúng chỗ là một cái tài, đánh lệch là bị người trong giới chê. Tương truyền xưa có lệ quan viên dùng thẻ tre để thưởng đào nương, rồi tính tiền theo số thẻ; đây là chuyện được kể nhiều nhưng chi tiết mỗi nơi một khác.
Ba người, một cuộc đối thoại. Nghe hát nói, bạn sẽ thấy ba âm thanh đan nhau như một cuộc nói chuyện: lời ca kể, tiếng đàn đáp, tiếng trống chầu nhận xét. Thiếu một trong ba thì buổi hát mất đi nhiều phần hay.
Cách nghe một bài hát nói cho ra cái hay
Với người mới làm quen thể hát nói, có thể nghe theo trình tự sau:
- Tìm bản văn bài hát nói trước khi nghe. Đọc vài lần để biết ý chính, chỗ nào là mưỡu, chỗ nào vào khổ đầu, câu nào là câu chữ Hán.
- Nghe phần mưỡu như nghe ngâm thơ. Để ý giọng đào nương ngân dài, đàn đáy lót nhẹ, chưa có nhịp phách rõ.
- Khi vào phần hát nói, chú ý tiếng phách. Thử gõ nhẹ theo để cảm được nhịp; bạn sẽ thấy lời ca không rơi đều vào phách mà có chỗ vượt, chỗ chờ.
- Nghe riêng tiếng đàn đáy ở những chỗ giọng hát dừng. Đó là lúc kép đàn "nói" thay lời.
- Đếm tiếng trống chầu. Những chỗ chầu điểm dồn thường rơi vào câu hay, chữ đắt hoặc một kỹ thuật khó của đào nương.
- Nghe tới câu cuối. Câu kết sáu chữ thường được hát dứt khoát, khép lại cả bài.
Đừng lo nếu lần đầu chưa nghe ra. Hát nói là thể cách đòi tai quen dần. Nghe cùng một bài qua hai, ba giọng đào nương khác nhau sẽ giúp bạn thấy phần khuôn chung và phần sáng tạo riêng của từng người hát.
Những người đã giữ hát nói qua thời khó
Sau giữa thế kỷ 20, ca trù gần như vắng bóng trong đời sống. Môi trường hát chơi của quan viên không còn, nhiều đào nương bỏ nghề. Những năm sau đó, việc ghi âm, sưu tầm của các nhà nghiên cứu cùng sự trở lại của một số nghệ nhân lớn tuổi giúp hát nói không bị mất hẳn.
Trong số đó, bà Quách Thị Hồ (1909–2001) là cái tên thường được nhắc nhất. Các bản thu giọng bà đã trở thành tư liệu quý để người sau học lối hát. Bạn có thể tìm nghe các bản thu được phát hành công khai để cảm được giọng ca trù cổ, đặc biệt là ở phần hát nói.
Từ những năm 1990 trở đi, các câu lạc bộ, giáo phường ca trù ở Hà Nội và một số tỉnh lần lượt được khôi phục. Việc dạy hát nói hiện nay vẫn dựa nhiều vào truyền khẩu: người học ngồi bên thầy, nghe từng câu, gõ phách theo, tập đi tập lại. Không có ký âm nào thay được việc nghe trực tiếp.
Nếu bạn là giáo viên muốn đưa hát nói vào lớp văn hay lớp nhạc, cách dễ là chọn một bài ngắn, cho học sinh đọc văn bản, rồi nghe bản thu của nghệ nhân. Nói rõ cho học sinh biết đây là thơ để hát, không đọc như thơ in. Việc nhận ra tiếng phách, tiếng đàn và tiếng chầu trong cùng một bản ghi đã là một bước hiểu ca trù.
Câu hỏi thường gặp
Hát nói và ca trù có phải là một không?
Không hoàn toàn. Ca trù là cả một loại hình nghệ thuật với nhiều thể cách khác nhau; hát nói là một thể cách trong đó, được hát nhiều nhất trong các buổi hát chơi. Vì phổ biến quá nên nhiều người dùng chữ hát nói để chỉ chung ca trù, nhưng cách gọi chính xác là phân biệt hai khái niệm.
Một bài hát nói chuẩn có bao nhiêu câu?
Theo mô tả trong nhiều sách nghiên cứu, bài hát nói đủ khổ có 11 câu chia ba khổ: bốn câu, bốn câu và ba câu, có thể kèm mưỡu đầu và mưỡu hậu bằng thơ lục bát. Bài thêm khổ gọi là dôi khổ, bớt khổ gọi là thiếu khổ, và có không ít bài phá cách.
Mưỡu là gì?
Mưỡu là phần thơ lục bát hoặc song thất lục bát đặt trước hoặc sau phần hát nói chính. Mưỡu đầu ngâm trước để dẫn vào bài, mưỡu hậu đặt cuối để kết. Phần mưỡu thường được ngâm chậm, ít nhịp phách hơn phần hát nói.
Vì sao bản văn hát nói ở các sách lại khác nhau?
Hát nói được truyền qua chép tay và truyền miệng trong giới đào nương, quan viên suốt nhiều đời, nên một bài có thể có nhiều dị bản. Khi trích dẫn, bạn nên ghi rõ tuyển tập, người sưu tầm hoặc hiệu đính để người đọc đối chiếu được.
Ca trù được UNESCO ghi danh khi nào?
Ca trù được UNESCO ghi danh năm 2009 vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Danh sách này dành cho các di sản đang có nguy cơ mai một, cần kế hoạch giữ gìn cụ thể như đào tạo người kế cận và khôi phục môi trường diễn xướng.
Người mới nghe nên bắt đầu từ đâu?
Nên đọc bản văn của một bài hát nói ngắn trước, sau đó nghe bản thu của nghệ nhân, để ý lần lượt tiếng phách, tiếng đàn đáy và tiếng trống chầu. Nghe cùng một bài qua vài giọng hát khác nhau sẽ giúp tai quen dần với lối hát.