CoTruyen.comCổ Truyền
Đờn ca tài tử và cải lương

Nghề soạn giả cải lương: viết một vở là chọn bài bản, đặt lời và dựng cảnh

Soạn giả cải lương không chỉ viết chuyện mà còn chọn bài bản cho từng cảnh và đặt lời khớp nhịp, khớp dấu giọng. Bài đi qua các công đoạn của nghề này.

Hands writing with a fountain pen in a notebook with blank pages beside a cup of tea and an old cassette player, dim desk lamp in an old Saigon apartment

Soạn giả là người viết vở cải lương, nhưng công việc của họ khác hẳn người viết kịch nói: ngoài cốt truyện và lời thoại, soạn giả phải chọn bài bản cho từng cảnh, đặt lời ca khớp với nhịp và với dấu giọng tiếng Việt, và viết nói lối dẫn vào bài. Một vở cải lương hay cần cả tài kể chuyện lẫn hiểu nhạc tài tử đến từng câu.

Bài này đi qua các công đoạn của nghề soạn giả ở mức khái quát, dựa trên những gì người trong nghề hay chia sẻ công khai. Bài không đánh giá soạn giả nào giỏi hơn ai, không nêu tên người còn sống; tên người đã mất chỉ nêu khi dữ kiện đã chắc chắn.

Soạn giả làm gì trong một đoàn cải lương

Chữ "soạn giả" ở Nam Bộ gần như gắn riêng với cải lương: người soạn tuồng, viết bổn tuồng, tức kịch bản. Trong thời kỳ các gánh hát tư nhân thịnh, soạn giả có thể viết riêng cho một gánh, viết theo đặt hàng của bầu gánh, hoặc viết rồi bán vở cho nhiều nơi. Vở hay được nhiều gánh dựng, vở dở thì nằm lại trong ngăn kéo.

Một soạn giả thường không làm việc một mình. Vở được dựng lên sân khấu qua tay người dàn dựng, người phụ trách âm nhạc, các diễn viên chính. Có những vai được viết riêng cho một giọng ca cụ thể, vì soạn giả biết người đó ca hơi nào hay, ngân chữ nào đẹp. Ngược lại, khi tập vở, diễn viên và người đờn cũng góp ý để soạn giả sửa lời cho dễ ca.

Theo lời kể của người trong nghề về thời kỳ đầu, có những gánh diễn theo lối "tuồng cương": vở chỉ có dàn ý, diễn viên tự ứng tác lời trên sân khấu. Khi cải lương phát triển, vở được viết ra đầy đủ hơn, và vai trò của soạn giả trở nên rõ ràng. Từ đó, tên soạn giả bắt đầu được ghi kèm tên vở, và có những vở được nhớ tới gắn liền với người viết.

Các công đoạn viết một vở

Mỗi soạn giả có cách làm riêng; trình tự dưới đây là khái quát những bước mà các chia sẻ của người trong nghề thường nhắc tới.

  1. Chọn đề tài và dòng vở: tuồng tích hay tuồng xã hội, chuyện xưa hay chuyện đời thường, hợp với đoàn và khán giả nào.
  2. Dựng cốt truyện, chia màn, chia cảnh: xác định cao trào ở đâu, cảnh nào nặng, cảnh nào nhẹ để xen kẽ.
  3. Phân vai theo hệ vai cải lương: kép chánh, đào chánh, vai độc, vai hề, vai lão, để mỗi màu sắc có chỗ.
  4. Chọn bài bản cho từng đoạn tâm trạng: đoạn nào cần hơi Bắc vui, đoạn nào cần hơi Oán, đoạn nào dành cho vọng cổ.
  5. Đặt lời ca: viết lời khớp với khung giai điệu, nhịp và dấu giọng của từng chữ, sao cho ca lên rõ lời mà không lệch nhạc.
  6. Viết nói lối và lời thoại nối giữa các bài ca, giữ nhịp kể chuyện.
  7. Đọc, tập cùng đoàn, sửa lời theo giọng diễn viên và theo phản hồi của người đờn.

Trong các bước trên, bước chọn bài bản và đặt lời là phần làm nên chất cải lương. Một cốt truyện hay mà đặt bài sai chỗ, lời ca không khớp nhịp, thì lên sân khấu vẫn hụt.

Một bổn tuồng cải lương trông ra sao

Bổn tuồng cải lương nhìn qua giống kịch bản kịch nói: có tên vở, danh sách nhân vật, chia màn, chia cảnh, mỗi cảnh có đoạn tả bối cảnh và lời của từng nhân vật. Điểm khác nằm ở chỗ, xen giữa lời thoại là những đoạn được ghi rõ tên bài bản, ví dụ một đoạn ghi là nói lối, một đoạn ghi tên một bài ngắn, rồi đoạn sau ghi là vọng cổ kèm số câu. Người đọc bổn tuồng nhìn vào là biết đoạn nào nói, đoạn nào ca, ca bài gì.

Với những đoạn vọng cổ, soạn giả thường viết lời theo từng câu, đánh dấu chỗ kết câu để người ca và người đờn khớp với tiếng song lang. Lời một câu vọng cổ nhịp 32 khá dài, nên trên giấy nó trông như một đoạn văn xuôi có vần lỏng. Những bài ngắn khác cũng được ghi lời theo khung câu của bài đó.

Ngoài lời, bổn tuồng còn có những chỉ dẫn cho dàn nhạc và người dàn dựng: chỗ nào nhạc nổi lên, chỗ nào ngưng, cảnh nào cần tiếng trống dồn, nhân vật nào bước ra lúc nào. Mức chi tiết tuỳ soạn giả; có người ghi rất kỹ, có người để phần lớn cho người dàn dựng và dàn nhạc. Đọc một bổn tuồng in sẵn là cách nhanh nhất để thấy công việc của soạn giả cụ thể ra sao, khác với chỉ xem vở trên sân khấu.

Đặt lời: cái khó riêng của tiếng Việt

Tiếng Việt có sáu thanh, và mỗi chữ khi ca phải đi theo đường giai điệu mà không làm người nghe hiểu sai chữ. Chữ mang dấu huyền, dấu nặng thường hợp với nốt thấp; chữ dấu sắc, dấu ngã hợp với nốt cao hoặc chỗ luyến lên. Đặt một chữ dấu sắc vào chỗ nhạc đi xuống thấp, người ca phải bẻ giọng, nghe như hát lệch hoặc thành chữ khác. Người nghe Nam Bộ rất nhạy với chuyện này.

Vì vậy soạn giả phải thuộc bài bản đến từng câu, biết chỗ nào nhạc lên, chỗ nào xuống, chỗ nào ngân dài, rồi chọn chữ phù hợp. Đây là lý do nhiều soạn giả cải lương xuất thân là người đờn hoặc người ca tài tử, hoặc ít nhất là người nghe nhạc tài tử rất nhiều. Viết lời cải lương mà không thuộc nhạc thì như viết lời cho một bài hát chưa nghe bao giờ.

Với vọng cổ, việc đặt lời còn có quy tắc riêng về chữ cuối câu và về chỗ người ca có thể kéo dài. Đặt lời vọng cổ vì thế được xem như một kỹ năng riêng trong nghề; có người chuyên viết vọng cổ ca lẻ, không viết vở dài. Những bài vọng cổ ca lẻ hay, được nhiều người thuộc, thường là kết quả của việc đặt lời rất kỹ, chữ nào cũng nằm đúng chỗ.

Một tên tuổi tiêu biểu: Trần Hữu Trang

Khi nói về nghề soạn giả, nhiều tài liệu nhắc tới Trần Hữu Trang, người viết vở Đời cô Lựu. Ông thường được nêu như một trong những soạn giả tiêu biểu của dòng tuồng xã hội, với cách đặt vấn đề thân phận con người, đặc biệt là người phụ nữ nghèo, trong hoàn cảnh xã hội thời đó. Tên ông về sau được đặt cho một đơn vị nghệ thuật cải lương ở Thành phố Hồ Chí Minh, điều cho thấy vị trí của ông trong lịch sử sân khấu Nam Bộ.

Nhắc tên một người không có nghĩa là xếp hạng. Nghề soạn giả cải lương có rất nhiều người viết qua các thời kỳ, mỗi người có thế mạnh riêng: người giỏi tuồng tích, người giỏi tuồng xã hội, người chuyên vọng cổ ca lẻ, người giỏi hài. Bài này chỉ nêu một tên đã chắc chắn dữ kiện để làm ví dụ, không có ý cho rằng những người khác kém hơn.

Với người muốn tìm hiểu thêm, nên đọc các công trình nghiên cứu về sân khấu cải lương, các tuyển tập kịch bản đã được xuất bản, và nghe lại các bản thu vở cũ. Khi đọc tiểu sử một soạn giả, nên để ý nguồn tài liệu, vì nhiều chi tiết đời tư được kể truyền miệng, không phải chi tiết nào cũng đã được kiểm chứng.

Nghề soạn giả qua các thời kỳ

Thời gánh hát tư nhân. Soạn giả viết theo nhịp lưu diễn, vở cần hấp dẫn để bán vé. Có thời kỳ nhiều vở được viết rất nhanh, đáp ứng nhu cầu đổi vở liên tục của các gánh. Áp lực thương mại vừa sinh ra nhiều vở hay, vừa sinh ra không ít vở dễ dãi.

Thời đĩa hát, phát thanh. Nhu cầu bài vọng cổ ca lẻ, trích đoạn thu đĩa, kịch truyền thanh tăng lên, mở ra một mảng việc riêng cho người đặt lời. Lời viết cho phát thanh phải rõ ràng vì người nghe chỉ có âm thanh.

Thời các đoàn nhà nước và xã hội hoá. Vở được dựng theo kế hoạch, có hội diễn, có đề tài theo dịp. Soạn giả viết cho cả đề tài lịch sử, đề tài đương đại và dựng lại vở cũ.

Hôm nay. Sân khấu cải lương thu hẹp so với thời thịnh, người viết mới ít hơn. Bên cạnh vở dài, có nhu cầu trích đoạn ngắn, vở cho truyền hình, nội dung cho các nền tảng trực tuyến. Người viết trẻ học nghề qua việc nghe nhiều, đọc nhiều bổn tuồng cũ và làm việc cùng người đờn, người ca.

Người muốn tìm hiểu nghề nên bắt đầu từ đâu

Không có con đường duy nhất. Điều mà người trong nghề hay khuyên là trước hết phải thuộc nhạc: nghe nhiều bài tổ, nhiều bài bản ngắn, nhiều vọng cổ, cho đến khi nghe một câu nhạc là biết chỗ nào lên, chỗ nào xuống. Không thuộc nhạc thì không đặt lời được, và không đặt lời được thì chưa thể gọi là soạn giả cải lương.

Thứ hai là đọc và xem nhiều vở. Đọc bổn tuồng in sẵn để thấy cách chia màn, cách nối thoại với bài ca; xem trực tiếp hoặc xem bản thu để thấy lời được ca lên ra sao. Đối chiếu lời trên giấy với lời khi ca là cách học rất hiệu quả, vì sẽ thấy diễn viên đã sửa, đã nhấn chữ nào.

Thứ ba là thử viết những đoạn nhỏ: một bài vọng cổ ca lẻ, một trích đoạn hai nhân vật, rồi nhờ người ca, người đờn ở câu lạc bộ địa phương thử ca. Họ sẽ chỉ ra ngay chữ nào khó ca, câu nào lệch nhịp. Nghề soạn giả, rốt cuộc, cũng như các nghề cổ truyền khác: học bằng tai, bằng tay và bằng sự góp ý của người làm nghề lâu năm.

Câu hỏi thường gặp

Soạn giả cải lương là ai?

Là người viết vở cải lương, gồm cốt truyện, lời thoại, nói lối và đặc biệt là lời ca đặt trên các bài bản tài tử và vọng cổ. Chữ soạn giả ở Nam Bộ gần như gắn riêng với nghề viết tuồng cải lương.

Soạn giả khác người viết kịch nói ở điểm nào?

Người viết kịch nói chủ yếu viết thoại. Soạn giả cải lương còn phải chọn bài bản cho từng đoạn tâm trạng và đặt lời khớp nhịp, khớp dấu giọng tiếng Việt, nên phải thuộc nhạc tài tử đến từng câu.

Vì sao đặt lời vọng cổ được coi là kỹ năng riêng?

Vì vọng cổ có khung nhịp rất dài, có quy tắc về chữ cuối câu và chỗ người ca kéo dài. Lời phải khớp từng chữ với đường giai điệu. Có người chuyên viết vọng cổ ca lẻ, không viết vở dài, và những bài hay thường do đặt lời rất kỹ.

Trần Hữu Trang là ai?

Là soạn giả cải lương thường được nêu như một trong những người tiêu biểu của dòng tuồng xã hội, tác giả vở Đời cô Lựu. Tên ông về sau được đặt cho một đơn vị nghệ thuật cải lương ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuồng cương là gì?

Theo lời kể của người trong nghề về thời kỳ đầu, tuồng cương là lối diễn mà vở chỉ có dàn ý, diễn viên tự ứng tác lời trên sân khấu. Khi cải lương phát triển, vở được viết đầy đủ hơn và vai trò soạn giả trở nên rõ ràng.

Muốn học viết cải lương thì bắt đầu thế nào?

Người trong nghề thường khuyên: thuộc nhạc tài tử trước, đọc và xem nhiều vở, rồi thử viết đoạn nhỏ như một bài vọng cổ ca lẻ và nhờ người ca, người đờn ở câu lạc bộ địa phương thử ca để góp ý chữ nào khó ca, câu nào lệch nhịp.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183