CoTruyen.comCổ Truyền
Nhạc cụ cổ truyền: tiếng đàn, dàn nhạc và nghề làm đàn

Tiếng đàn bầu: một dây, cần đàn và nghệ thuật bồi âm của người Việt

Đàn bầu chỉ có một dây mà chơi trọn bài nhờ bồi âm và cần đàn uốn cao độ. Bài giải thích cấu tạo, ngón nhấn rung và chặng đường từ đàn xẩm tới sân khấu.

Close-up of a musician hands at a dan bau monochord on a low wooden platform in a Hanoi courtyard house, palm edge touching the single string, warm afternoon light

Đàn bầu là cây đàn một dây của người Việt, phát ra tiếng chủ yếu bằng bồi âm: người đàn chạm nhẹ cạnh bàn tay vào dây ở những điểm nhất định rồi gảy, còn tay kia uốn cần đàn để kéo cao độ lên xuống. Nhờ hai động tác ấy, một sợi dây duy nhất đủ để chơi trọn một làn điệu dân ca, với những chỗ luyến láy mà nhiều người nghe thấy gần với giọng hát hơn bất cứ cây đàn nào.

Bài này không bàn chuyện mua đàn hay lên dây. Nó đi vào ba câu hỏi mà người yêu nhạc cổ truyền hay đặt ra: một dây thì lấy đâu ra đủ nốt, tiếng "nhấn nhá" đặc trưng sinh ra từ đâu, và cây đàn từng gắn với người hát rong đã đi lên sân khấu hoà nhạc bằng con đường nào. Hiểu được mấy điều đó, lần sau nghe một bản độc tấu, bạn sẽ nghe ra nhiều lớp hơn hẳn.

Cấu tạo cây đàn bầu: mỗi bộ phận làm một việc

Thân đàn (hộp cộng hưởng). Là một hộp dài, xưa thường làm từ ống tre hay ống nứa to bổ dọc, sau này phổ biến là hộp gỗ, mặt đàn bằng gỗ nhẹ để rung tốt. Thân đàn nhận rung động từ dây rồi khuếch tiếng ra ngoài; gỗ mặt càng mỏng và khô đều thì tiếng càng thoáng.

Cần đàn (vòi đàn). Là một thanh dẻo cắm thẳng đứng ở một đầu thân đàn, xưa làm bằng sừng trâu, tre hoặc gỗ, nay nhiều cây dùng vật liệu khác cho bền. Dây đàn buộc vào cần, nên khi người chơi đẩy cần ra hay kéo cần vào, độ căng của dây thay đổi và cao độ trượt theo.

Bầu đàn. Là quả bầu khô hoặc một vật tròn rỗng tiện bằng gỗ, gắn ở gốc cần. Chính bộ phận này cho cây đàn cái tên quen thuộc. Bầu góp một phần vào việc tạo tiếng và làm cho cần đàn đứng vững hơn, dù vai khuếch đại chính vẫn thuộc về thân đàn.

Dây đàn. Ngày xưa là dây tơ se, về sau chuyển sang dây kim loại vì bền và vang hơn. Một đầu dây buộc vào trục lên dây ở đầu kia thân đàn, đầu còn lại nối lên cần. Chỉ có một dây, nên mọi thứ người chơi làm đều dồn vào sợi dây ấy.

Que gảy. Một que nhỏ, mảnh, thường bằng tre vót hay nhựa, kẹp giữa các ngón tay phải. Người chơi dùng đầu que gảy dây, đồng thời dùng cạnh bàn tay phải chạm vào dây ở điểm bồi âm. Hai việc diễn ra gần như cùng lúc, đó là chỗ khó nhất của người mới tập.

Một dây mà đủ nốt: bồi âm hoạt động thế nào

Khi một sợi dây căng rung, nó không chỉ rung cả chiều dài mà đồng thời rung thành từng đoạn bằng nhau: hai nửa, ba phần, bốn phần, năm phần. Mỗi kiểu rung ấy cho một âm cao hơn âm gốc, gọi là bồi âm. Bình thường ta nghe chúng trộn vào nhau thành âm sắc. Nhưng nếu chạm rất nhẹ vào dây đúng ở điểm chia, chẳng hạn chính giữa dây, những kiểu rung không có "nút" ở điểm đó bị dập đi, chỉ còn lại kiểu rung nhận điểm ấy làm nút, và tai ta nghe một âm trong, cao, như tiếng chuông nhỏ.

Người chơi đàn bầu tận dụng đúng hiện tượng vật lý đó. Trên mặt đàn có đánh dấu các điểm chia dây, và bàn tay phải đặt cạnh lên điểm cần thiết rồi gảy, nhấc tay lên ngay sau khi gảy để tiếng ngân. Mỗi điểm cho một bồi âm, nên một dây có cả một dãy nốt cao thấp khác nhau. Âm gốc của dây ít được dùng trong lối chơi truyền thống; cái người ta nghe trong một bản đàn bầu phần lớn là bồi âm.

Dãy bồi âm tự nhiên này không trùng khít với các nốt của một thang âm định sẵn. Vì vậy cần đàn trở nên quan trọng: tay trái uốn cần để đẩy nốt lên hay kéo nốt xuống cho đúng cao độ của làn điệu. Nói cách khác, bàn tay phải chọn vùng nốt, còn bàn tay trái tinh chỉnh và tô điểm. Sự phối hợp ấy giải thích tại sao cùng một bài, hai người đàn có thể cho hai sắc thái khác nhau đến vậy.

Tay trái và cần đàn: nhấn, rung, luyến làm nên giọng "như người hát"

Nhấn. Sau khi gảy, người chơi đẩy hoặc kéo cần đàn để nốt vừa vang trượt lên hay xuống. Nhấn có thể rất nhẹ, chỉ làm nốt hơi cao lên, hoặc sâu đến mức chuyển hẳn sang một nốt khác. Trong nhạc cổ truyền Việt, những nốt nhấn này chính là chỗ tạo ra màu của hơi, của điệu, chứ không phải đồ trang trí thêm vào.

Rung. Tay trái lắc cần đàn đều và liên tục, làm cao độ dao động quanh một điểm. Rung nhanh hẹp nghe sáng và căng; rung chậm rộng nghe buồn và mềm. Cách rung của mỗi người đàn là một trong những dấu hiệu dễ nhận ra nhất, giống như chất giọng của một ca sĩ.

Luyến. Một lần gảy, rồi uốn cần để đi qua hai, ba nốt liền nhau mà không gảy lại. Kỹ thuật này làm câu nhạc nối liền như một hơi hát. Khi nghe kỹ, bạn sẽ thấy đàn bầu ít khi "đánh từng nốt"; nó trượt và nối, giống cách người hát dân ca đưa chữ.

Vỗ và láy. Gảy một nốt rồi đẩy cần nhanh để chạm thoáng sang nốt trên rồi trở về, tạo một tiếng láy ngắn. Láy thường đặt ở đầu hay cuối câu, đúng chỗ người hát hay đổ hột. Cùng một giai điệu, người chơi có kinh nghiệm biết nơi nào nên láy và nơi nào để nốt đứng yên.

Tiếng "luồng" và tiếng "thật". Ngoài bồi âm, một số người chơi còn dùng âm gảy không chặn để lấy tiếng đục, dày, xen vào những đoạn cần tương phản. Đây là lựa chọn phong cách, không phải quy tắc bắt buộc, và cách gọi tên kỹ thuật cũng khác nhau giữa các thầy.

Từ cây đàn của người hát xẩm đến sân khấu hoà nhạc

Đàn bầu có mặt trong đời sống người Việt từ lâu, nhưng thời điểm ra đời thì chưa có tài liệu thống nhất. Những gì chắc chắn hơn là cây đàn gắn chặt với hát xẩm, lối hát của người hát rong ở chợ, bến đò, trên tàu điện. Một cây đàn nhẹ, dễ mang, tiếng gần giọng người là thứ hợp với những phường xẩm đi khắp nơi. Nhiều câu ca dao nhắc tới tiếng đàn này với sắc thái buồn thương, quen nhất có lẽ là câu "làm thân con gái chớ nghe đàn bầu" (lời dân gian).

Sang thế kỷ XX, cây đàn được đưa vào các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp và trường âm nhạc. Người ta bắt đầu viết tác phẩm riêng cho đàn bầu, soạn bài tập, ghi lại kỹ thuật thành hệ thống để dạy. Đàn bầu bước ra khỏi vai đệm cho giọng hát, trở thành nhạc cụ độc tấu, đứng trước dàn nhạc dân tộc tổng hợp hoặc cả dàn nhạc giao hưởng.

Chặng đường ấy có được và có mất. Cái được là cây đàn đến với nhiều khán giả hơn, kỹ thuật được nghiên cứu sâu, nhiều thế hệ người chơi được đào tạo bài bản. Cái người trong nghề hay nhắc là lối đàn mộc, mộc mạc, gắn với giọng xẩm và câu ca dân gian ngày càng ít người giữ. Nghe cả hai lối, bản đàn trên sân khấu và tiếng đàn đi với giọng hát xẩm, mới thấy hết những gì cây đàn một dây làm được.

Âm sắc thay đổi theo vật liệu như thế nào

Bảng dưới không nhằm chọn đàn mà để giải thích vì sao các bản thu đàn bầu nghe khác nhau: cùng một bài, vật liệu thân đàn, dây, bầu và cách khuếch âm đều để lại dấu vết trong tiếng.

Bộ phậnLối xưaLối phổ biến về sauẢnh hưởng tới tiếng
Thân đànỐng tre, ống nứa bổ dọcHộp gỗ, mặt gỗ nhẹỐng tre cho tiếng mỏng, khô; hộp gỗ cho tiếng dày và ngân dài hơn
DâyDây tơ seDây kim loạiDây tơ tiếng ấm, nhỏ, nhanh tắt; dây kim loại vang, sáng, ngân lâu
BầuQuả bầu khôBầu gỗ tiệnẢnh hưởng nhẹ tới độ tròn của tiếng, rõ nhất ở các nốt nhấn sâu
Khuếch âmTiếng mộc, nghe gầnGắn bộ thu âm, nối loaĐàn điện ngân dài, nghe được ở không gian lớn, đổi hẳn sắc thái

Cũng nên nhớ rằng tay người chơi quyết định âm sắc không kém gì vật liệu. Một cây đàn tre trong tay người quen ngón vẫn có thể ngọt hơn một cây hộp gỗ trong tay người mới tập. Bảng trên chỉ giúp bạn hiểu sự khác biệt khi nghe các bản thu từ những thời kỳ khác nhau, không phải bảng xếp hạng vật liệu.

Đàn bầu điện: một thay đổi lớn mà ít người để ý

Khi tiếng đàn bầu mộc vốn nhỏ phải lên sân khấu lớn, người ta tìm cách gắn bộ thu âm dưới dây và nối ra loa. Đàn bầu điện ra đời từ nhu cầu rất thực tế ấy và nhanh chóng phổ biến. Tiếng đàn trở nên to, ngân rất dài, lượn lờ; nhiều khán giả trẻ biết đến đàn bầu qua chính âm thanh này mà không hề biết tiếng đàn mộc khác ra sao.

Sự ngân dài của đàn điện làm thay đổi cả cách chơi. Với đàn mộc, mỗi nốt tắt nhanh nên người đàn phải gảy dày hơn và nhấn sớm; với đàn điện, một lần gảy có thể kéo được cả câu, cho phép luyến láy dài, rung chậm và những đoạn trượt cao độ rộng. Cái hay và cái dễ sa đà nằm ở cùng một chỗ: ngân dài thì đẹp, nhưng nếu lạm dụng, bản đàn dễ thành một chuỗi nốt lượn đều đều, mất đi những khoảng lặng và chỗ ngắt vốn có trong câu hát dân gian.

Người nghe không cần chọn phe. Tốt nhất là nghe song song một bản đàn mộc và một bản đàn điện cùng bài, để tai tự nhận ra sự khác nhau về độ ngân, độ dày và cách xử lý chỗ nghỉ. Nhiều nghệ sĩ vẫn chủ động dùng đàn mộc khi đệm cho hát xẩm, ca trù hay dân ca, chỉ dùng đàn điện khi diễn cùng dàn nhạc lớn.

Nghe một bản độc tấu đàn bầu: lần lượt chú ý từng lớp

Để nghe ra những gì vừa nói, bạn có thể nghe cùng một bản ba, bốn lần, mỗi lần dồn chú ý vào một lớp. Cách này giúp tai phân biệt được cái gì do tay phải, cái gì do tay trái tạo nên.

  1. Lần thứ nhất, chỉ nghe giai điệu: nhận ra làn điệu dân ca hay chủ đề chính, đoán xem người đàn đang "hát" câu nào.
  2. Lần thứ hai, nghe chỗ gảy: đếm xem trong một câu người đàn gảy mấy lần, phần còn lại được nối bằng luyến hay nhấn.
  3. Lần thứ ba, nghe tay trái: tìm những nốt trượt lên, trượt xuống, những chỗ rung nhanh hay chậm, chỗ láy ở đầu hoặc cuối câu.
  4. Lần thứ tư, nghe khoảng lặng: để ý người đàn nghỉ ở đâu, cho nốt tắt hẳn hay giữ ngân, và chỗ nghỉ ấy có trùng với chỗ ngắt câu khi hát hay không.
  5. Cuối cùng, nếu có thể, nghe một người hát dân ca cùng bài rồi quay lại bản đàn: lúc đó bạn sẽ thấy rõ cây đàn đang bắt chước những gì của giọng người.

Nghe theo lớp như vậy mất thời gian hơn nghe một lượt, nhưng chỉ cần làm với hai, ba bản là tai đã quen. Sau đó, mỗi khi nghe đàn bầu, bạn sẽ tự nhiên nhận ra phong cách riêng của từng người chơi, thay vì chỉ thấy "tiếng đàn buồn".

Câu hỏi thường gặp

Đàn bầu có phải nhạc cụ chỉ người Việt mới có không?

Nhạc cụ một dây có ở nhiều nền văn hoá, nhưng lối dùng bồi âm kết hợp cần đàn uốn cao độ như đàn bầu là nét rất riêng của người Việt. Một số cộng đồng gần gũi cũng có nhạc cụ tương tự; khi so sánh nên xem cấu tạo và lối chơi cụ thể thay vì khẳng định độc nhất.

Vì sao gọi là đàn bầu, có phải phải có quả bầu thật không?

Tên gọi đến từ bộ phận bầu gắn ở gốc cần đàn, xưa thường là quả bầu khô. Ngày nay nhiều cây dùng bầu gỗ tiện hoặc vật liệu khác mà vẫn gọi là đàn bầu. Cây đàn còn có tên Hán Việt là độc huyền cầm, nghĩa là đàn một dây.

Đàn bầu có chơi được nhạc phương Tây không?

Có thể, và đã có nhiều người chơi chuyển soạn nhạc phương Tây cho đàn bầu. Tuy vậy, nét mạnh nhất của cây đàn vẫn là luyến láy, nhấn nhá theo lối dân ca Việt. Những bài có nhiều nốt nhanh, nhảy quãng xa thường khó thể hiện tự nhiên trên một dây.

Đàn bầu điện và đàn bầu mộc khác nhau ở điểm nào khi nghe?

Đàn bầu mộc tiếng nhỏ hơn, tắt nhanh, nghe gần và mộc mạc; đàn bầu điện tiếng to, ngân dài, có thể chỉnh vang qua thiết bị. Cách chơi cũng đổi theo: đàn điện cho phép luyến dài hơn, đàn mộc đòi gảy dày và nhấn gọn hơn.

Tại sao tiếng đàn bầu thường bị coi là buồn?

Phần lớn vì đàn bầu gắn với hát xẩm và dân ca trữ tình, lại hay được chọn cho những đoạn nhạc sâu lắng. Bản thân cây đàn có thể chơi vui, nhanh và rộn ràng. Cảm giác buồn đến nhiều từ làn điệu và cách người chơi rung, nhấn hơn là từ cây đàn.

Muốn tìm hiểu sâu hơn về đàn bầu thì nên bắt đầu từ đâu?

Bạn có thể nghe song song các bản thu đàn mộc với giọng xẩm và bản độc tấu trên sân khấu, đọc giáo trình nhạc cụ dân tộc của các trường nghệ thuật, hoặc hỏi những người đang dạy đàn ở nhà văn hoá địa phương. Xem trực tiếp tay người chơi giúp hiểu bồi âm nhanh hơn đọc mô tả.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183