Tính đến năm 2022, Việt Nam có 15 di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO ghi danh, từ Nhã nhạc cung đình Huế (2003) đến Nghệ thuật làm gốm của người Chăm (2022). Trong số đó, ba di sản từng hoặc đang nằm trong danh sách cần bảo vệ khẩn cấp, còn lại thuộc danh sách đại diện của nhân loại. Đọc lẫn tên, nhầm năm hay gọi chung là "di sản thế giới" là những lỗi rất hay gặp, kể cả trên báo chí và tài liệu du lịch.
Bài này giúp bạn đọc danh sách cho đúng: mỗi di sản tên chính thức là gì, ghi danh năm nào, nằm ở danh sách nào và ở vùng nào. Các hồ sơ được ghi danh sau năm 2022 không được liệt kê ở đây; nếu cần, bạn nên tra trực tiếp trang thông tin của UNESCO hoặc cơ quan quản lý di sản để có danh sách cập nhật.
Ba loại "di sản" hay bị gọi lẫn
UNESCO có nhiều chương trình khác nhau, và người ta hay gộp chúng lại dưới một chữ "di sản thế giới". Thật ra di sản thế giới theo đúng nghĩa là các địa điểm văn hoá, thiên nhiên như Vịnh Hạ Long hay Quần thể di tích Cố đô Huế, được ghi danh theo Công ước năm 1972. Đó là những nơi có thể đến tận nơi, đo diện tích, vẽ ranh giới.
Di sản văn hoá phi vật thể được ghi danh theo một công ước khác, Công ước năm 2003 về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể. Đây là các thực hành, tri thức, nghệ thuật trình diễn, nghề thủ công, lễ hội do cộng đồng nắm giữ và truyền lại. Nhã nhạc hay quan họ không có ranh giới trên bản đồ; chúng sống trong con người.
Loại thứ ba là di sản tư liệu, thuộc chương trình Ký ức thế giới, gồm các bộ văn bản, mộc bản, bia đá, châu bản. Ba loại này có cách xét, cách ghi danh và cách bảo vệ khác nhau. Khi đọc một tin tức nói Việt Nam có thêm "di sản thế giới", bạn nên xem kỹ đó là loại nào trước khi dùng con số trong bài viết hay bài giảng.
Danh sách 15 di sản phi vật thể được ghi danh tới năm 2022
Tên gọi dưới đây là cách gọi thông dụng trong tiếng Việt, rút gọn so với tên đầy đủ trong hồ sơ. Năm là năm được ghi danh hoặc công nhận lần đầu.
| Năm | Di sản | Danh sách | Vùng chính |
|---|---|---|---|
| 2003 | Nhã nhạc cung đình Huế | Đại diện (ban đầu là Kiệt tác) | Huế |
| 2005 | Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên | Đại diện (ban đầu là Kiệt tác) | Các tỉnh Tây Nguyên |
| 2009 | Dân ca Quan họ Bắc Ninh | Đại diện | Vùng Kinh Bắc |
| 2009 | Ca trù | Cần bảo vệ khẩn cấp | Nhiều tỉnh, thành miền Bắc và Bắc Trung Bộ |
| 2010 | Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc | Đại diện | Hà Nội |
| 2011 | Hát Xoan | Khẩn cấp, năm 2017 chuyển sang Đại diện | Phú Thọ |
| 2012 | Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương | Đại diện | Phú Thọ |
| 2013 | Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ | Đại diện | Các tỉnh Nam Bộ |
| 2014 | Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh | Đại diện | Nghệ An, Hà Tĩnh |
| 2015 | Nghi lễ và tục kéo co (hồ sơ đa quốc gia) | Đại diện | Nhiều làng Bắc Bộ |
| 2016 | Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ | Đại diện | Nhiều địa phương |
| 2017 | Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ | Đại diện | Các tỉnh Trung Bộ |
| 2019 | Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái | Đại diện | Miền núi phía Bắc |
| 2021 | Nghệ thuật Xòe Thái | Đại diện | Tây Bắc |
| 2022 | Nghệ thuật làm gốm của người Chăm | Cần bảo vệ khẩn cấp | Khánh Hòa (Ninh Thuận cũ) và vùng lân cận |
Tên hồ sơ kéo co theo cách UNESCO ghi có dùng cụm từ chỉ hình thức thi đấu dân gian; trong tiếng Việt thường gọi gọn là kéo co nghi lễ. Đây là hồ sơ chung của bốn nước, Việt Nam là một trong số đó.
Những chỗ hay ghi sai khi nhắc đến danh sách
Nhã nhạc và cồng chiêng không ghi danh năm 2008. Hai di sản này được UNESCO công bố là Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại vào năm 2003 và 2005. Khi Công ước 2003 có hiệu lực và lập Danh sách đại diện, các kiệt tác được chuyển vào danh sách này năm 2008. Vì thế bạn sẽ thấy cả hai mốc; năm công nhận lần đầu vẫn là 2003 và 2005.
Quan họ và ca trù cùng năm nhưng khác danh sách. Hai di sản đều được ghi danh năm 2009, nhưng quan họ vào danh sách đại diện còn ca trù vào danh sách cần bảo vệ khẩn cấp. Ghi chung "hai di sản đại diện năm 2009" là sai.
Hát Xoan có hai mốc. Năm 2011 hát Xoan vào danh sách cần bảo vệ khẩn cấp. Năm 2017, sau quá trình bảo vệ của địa phương và cộng đồng, UNESCO chuyển hát Xoan sang danh sách đại diện.
Đờn ca tài tử không phải "cải lương". Hồ sơ năm 2013 là Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ. Cải lương có quan hệ gần gũi với đờn ca tài tử nhưng không phải là di sản được ghi danh trong hồ sơ này.
Then là thực hành, không chỉ là bài hát. Hồ sơ năm 2019 ghi danh Thực hành Then, bao gồm cả lời hát, đàn tính, nghi lễ và vai trò của người làm then trong cộng đồng Tày, Nùng, Thái.
Nhìn danh sách theo nhóm: âm nhạc, sân khấu, tín ngưỡng, nghề thủ công
Nhìn qua 15 di sản, bạn sẽ thấy nhóm lớn nhất là âm nhạc và lối hát: nhã nhạc, cồng chiêng, quan họ, ca trù, hát Xoan, đờn ca tài tử, ví giặm, bài chòi, then. Đây là điều dễ hiểu, vì âm nhạc dân gian Việt Nam rất đa dạng giữa các vùng và các dân tộc, và nhiều lối hát có đủ điều kiện để làm hồ sơ: có cộng đồng thực hành, có nghệ nhân, có tư liệu nghiên cứu.
Nhóm thứ hai gắn với lễ hội và tín ngưỡng: Hội Gióng, thờ cúng Hùng Vương, thờ Mẫu Tam phủ, kéo co nghi lễ. Ở các di sản này, âm nhạc và trình diễn vẫn có mặt, như hát văn trong thờ Mẫu hay tiếng trống trong Hội Gióng, nhưng trọng tâm là thực hành cộng đồng và niềm tin. Xòe Thái nằm giữa hai nhóm: vừa là nghệ thuật múa, vừa là sinh hoạt cộng đồng gắn với lễ, hội và đời sống bản làng.
Nhóm thứ ba hiện mới có một đại diện là nghệ thuật làm gốm của người Chăm. Đây là hồ sơ nghề thủ công đầu tiên của Việt Nam trên danh sách UNESCO, và nó vào thẳng danh sách cần bảo vệ khẩn cấp. Điều đó cho thấy nghề thủ công truyền thống, với tri thức nằm trong đôi tay người thợ, dễ tổn thương không kém gì một lối hát.
Mỗi di sản được ghi danh có ý nghĩa gì
Ghi danh không có nghĩa là UNESCO "chấm điểm" hay xếp hạng di sản. Một di sản được ghi danh vì hồ sơ chứng minh được nó đang được cộng đồng thực hành, truyền lại, có ý nghĩa với bản sắc của cộng đồng ấy, và nhà nước cùng cộng đồng cam kết có biện pháp bảo vệ. Rất nhiều di sản quý ở Việt Nam chưa có hồ sơ UNESCO, không có nghĩa là chúng kém giá trị hơn.
Sau khi ghi danh, quốc gia phải định kỳ báo cáo tình hình bảo vệ. Với di sản cần bảo vệ khẩn cấp, yêu cầu báo cáo và kế hoạch hành động càng chặt. Đây là lý do một số di sản sau khi được ghi danh có thêm lớp học, câu lạc bộ, chương trình đưa vào trường, kiểm kê nghệ nhân.
Với người đọc bình thường, ghi danh là một lời mời quan tâm. Nó khuyến khích bạn tìm hiểu, đi nghe, đi xem, ủng hộ cộng đồng giữ nghề. Nhưng nó không biến lối hát hay lễ hội thành thứ cần đóng khung; di sản sống thì vẫn thay đổi theo thời gian, trong giới hạn mà cộng đồng chấp nhận.
Địa danh trong danh sách sau khi sắp xếp tỉnh thành năm 2025
Từ ngày 1/7/2025, Việt Nam còn 34 tỉnh, thành. Nhiều địa danh gắn với di sản vì thế đổi tên đơn vị hành chính. Vùng quan họ gốc trước thuộc Bắc Ninh và Bắc Giang, nay nằm trong tỉnh Bắc Ninh mới. Hát Xoan và tín ngưỡng thờ Hùng Vương gắn với Phú Thọ, tỉnh mới bao gồm cả Vĩnh Phúc và Hòa Bình cũ. Làng gốm Chăm Bàu Trúc trước thuộc Ninh Thuận, nay thuộc Khánh Hòa.
Bài Chòi Trung Bộ trải dài qua nhiều tỉnh cũ, nay rơi vào các tỉnh mới như Đà Nẵng (gồm Quảng Nam cũ), Quảng Ngãi, Gia Lai (gồm Bình Định cũ), Đắk Lắk (gồm Phú Yên cũ) và Khánh Hòa. Đờn ca tài tử trải khắp Nam Bộ, nhiều tỉnh đã sáp nhập. Khi viết, cách an toàn là ghi tên vùng văn hoá như "vùng Kinh Bắc", "Nam Bộ", kèm tỉnh mới nếu chắc chắn.
Việc đổi địa giới không làm thay đổi gì với hồ sơ đã được ghi danh. Di sản vẫn thuộc về cộng đồng những làng, những phường đã giữ nó. Bạn chỉ cần cẩn thận khi ghi địa chỉ một làng nghề, một đình hát trong bài viết hoặc bài giảng để người đọc tìm đúng chỗ.
Dùng danh sách này trong bài giảng, bài viết
Nếu bạn là giáo viên, hướng dẫn viên hay người viết nội dung văn hoá, vài nguyên tắc giúp tránh sai:
- Ghi rõ loại danh sách. Đại diện hay cần bảo vệ khẩn cấp, chứ không chỉ "di sản UNESCO".
- Ghi năm ghi danh, không ghi năm nộp hồ sơ. Hồ sơ thường được chuẩn bị nhiều năm trước khi ghi danh.
- Không xếp hạng. Tránh những cụm như "độc nhất thế giới", "di sản số một"; UNESCO không xếp thứ tự giữa các di sản.
- Tra lại với nguồn chính thức khi nhắc tới hồ sơ mới hoặc hồ sơ đang đề cử, vì tin đồn và tin chưa chính thức xuất hiện rất nhanh.
- Nhắc tới cộng đồng giữ di sản. Tên làng, phường, nghệ nhân đã mất có dữ kiện chắc chắn giúp bài học sống động hơn một danh sách khô.
Một mẹo nhỏ cho giáo viên: thay vì bắt học sinh học thuộc năm, hãy cho các em nghe một đoạn quan họ, một đoạn ca trù, một đoạn đờn ca tài tử rồi đoán vùng miền. Năm ghi danh lúc đó chỉ còn là một chi tiết đi kèm, còn điều đọng lại là cảm nhận về sự khác nhau giữa các lối hát.
Câu hỏi thường gặp
Việt Nam có bao nhiêu di sản phi vật thể được UNESCO ghi danh?
Tính đến năm 2022 là 15 di sản, từ Nhã nhạc cung đình Huế năm 2003 đến Nghệ thuật làm gốm của người Chăm năm 2022. Những năm sau có thể có thêm hồ sơ mới; bạn nên tra trang chính thức để có con số cập nhật.
Di sản phi vật thể khác di sản thế giới thế nào?
Di sản thế giới là địa điểm văn hoá, thiên nhiên được ghi danh theo Công ước năm 1972. Di sản phi vật thể là thực hành, nghệ thuật, tri thức do cộng đồng nắm giữ, được ghi danh theo Công ước năm 2003. Hai loại có tiêu chí và cách bảo vệ khác nhau.
Nhã nhạc cung đình Huế được ghi danh năm 2003 hay 2008?
Năm 2003 Nhã nhạc được công bố là Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Năm 2008 các kiệt tác được chuyển vào Danh sách đại diện. Năm công nhận lần đầu vẫn là 2003.
Những di sản nào của Việt Nam thuộc danh sách cần bảo vệ khẩn cấp?
Ca trù (2009) và Nghệ thuật làm gốm của người Chăm (2022). Hát Xoan từng ở danh sách này từ năm 2011 và được chuyển sang danh sách đại diện vào năm 2017.
Tranh Đông Hồ đã được UNESCO ghi danh chưa?
Hồ sơ nghề làm tranh Đông Hồ đã được đề cử, nhưng bài này không liệt kê các hồ sơ sau năm 2022. Bạn nên tra trực tiếp thông tin của UNESCO hoặc cơ quan quản lý di sản để biết tình trạng mới nhất trước khi nêu năm ghi danh.
Được UNESCO ghi danh thì di sản có được hỗ trợ tiền không?
Ghi danh trước hết là sự công nhận và kèm theo trách nhiệm bảo vệ của quốc gia. UNESCO có quỹ hỗ trợ cho một số dự án, nhất là di sản cần bảo vệ khẩn cấp, nhưng phần lớn công việc bảo vệ do nhà nước và cộng đồng đảm nhận.