Truyền khẩu là cách dạy hát bằng miệng: thầy hát từng câu, trò hát theo cho tới khi thuộc và giống. Truyền ngón là cách dạy đàn bằng tay: trò nhìn ngón thầy, nghe tiếng thầy, rồi bắt chước cho tới khi tay mình ra được tiếng ấy. Phần lớn nghệ thuật dân gian Việt Nam, từ dân ca, chèo, ca trù đến đờn ca tài tử, đã đi qua nhiều thế hệ chủ yếu bằng hai con đường này.
Bài này tả cụ thể một buổi học kiểu truyền khẩu, truyền ngón diễn ra thế nào, vì sao cách dạy đó giữ được những thứ mà bản ký âm không ghi nổi, và vì sao nó cũng là lý do khiến nhiều làn điệu đã mất theo người. Phần cuối nói tới cách các lớp học hôm nay kết hợp lối dạy cũ với ghi âm, ký âm.
Vì sao nghệ thuật dân gian không cần bản nhạc
Trong làng xưa, người hát quan họ, người đàn trong phường bát âm hay người diễn chèo phần lớn không đọc ký âm phương Tây, và cũng không cần đến nó. Bài bản sống trong trí nhớ của cộng đồng. Một bài dân ca được hát đi hát lại trong đời sống hằng ngày, trong hội làng, trong lúc làm đồng, nên người trong làng nghe nó từ bé, thuộc nó như thuộc tiếng nói.
Lý do thứ hai nằm ở bản chất âm nhạc. Nhạc cổ truyền Việt dùng nhiều nốt nhấn nhá, luyến láy, rung, vuốt, và cao độ của một nốt có thể dịch chuyển tuỳ hơi, tuỳ điệu. Những chỗ ấy chính là cái hay, nhưng ghi lên khuông nhạc năm dòng thì hoặc phải ghi rất rườm rà, hoặc bỏ mất. Một bản ký âm chuẩn chỉnh của một câu hò Huế, đặt trước người chưa từng nghe hò, thường cho ra một câu hát đúng nốt mà sai hồn.
Lý do thứ ba là ngữ điệu. Dân ca Việt bám rất sát thanh điệu tiếng Việt: chữ dấu sắc đi lên, chữ dấu huyền đi xuống, chữ dấu hỏi gãy giữa chừng. Người hát giỏi uốn giai điệu theo lời, mỗi lời mới lại khiến câu nhạc đổi đi một chút. Lối dạy bằng miệng giữ được sự mềm dẻo đó, vì trò học cách thầy xử lý lời chứ không chỉ học một chuỗi nốt cố định.
Một buổi học truyền khẩu diễn ra thế nào
Mỗi phường, mỗi thầy dạy một kiểu, nhưng theo lời kể của nhiều nghệ nhân, một buổi học hát truyền thống thường đi theo những bước sau:
- Nghe trọn bài trước. Thầy hát hết một lượt cho trò nghe, có khi nhiều lượt trong nhiều buổi, để trò nắm được dáng chung của bài trước khi học từng câu.
- Học lời. Trò thuộc lời trước, có nơi chép ra giấy, có nơi chỉ đọc theo. Lời dân ca có nhiều tiếng đệm, tiếng láy, nên học lời cũng là học chỗ nào chen tiếng đệm.
- Học từng câu ngắn. Thầy hát một câu, trò hát lại. Sai chỗ nào thầy hát lại đúng chỗ ấy, nhiều khi chỉ một hai chữ, cho tới khi trò hát giống.
- Ghép câu thành đoạn. Khi đã thuộc từng câu, trò hát nối cả đoạn. Đây là lúc học hơi thở: lấy hơi ở đâu, ngân bao lâu, ngắt chỗ nào.
- Hát cùng thầy. Thầy trò hát song song, trò nghe để chỉnh độ vang, độ nảy, độ rền cho khớp với thầy.
- Hát một mình trước người nghe. Trò hát cho thầy và người trong nhóm nghe, nhận lời góp ý. Ở các lối hát đối đáp như quan họ, bước này còn là tập ứng đối với bên kia.
- Ôn đi ôn lại qua năm tháng. Bài chỉ thật sự thuộc khi hát được trong nhiều hoàn cảnh, nhiều tâm trạng mà không lạc lời, lạc điệu.
Cách học này chậm. Một người học quan họ theo lối cũ có thể mất nhiều năm mới hát được vài chục bài cho ra hồn. Nhưng cái được là trò mang theo cả những chi tiết mà không văn bản nào ghi lại.
Truyền ngón: học bằng mắt và học bằng tai
Với nhạc cụ, việc dạy càng dựa nhiều vào quan sát. Ngón đàn của người Việt nhiều kỹ thuật tay trái: nhấn để nâng cao độ, rung để làm tiếng run, vuốt để trượt từ nốt này sang nốt kia, mổ, vê. Những kỹ thuật ấy không có ký hiệu rõ ràng trong bản nhạc xưa. Trò phải ngồi cạnh thầy, nhìn ngón tay thầy ấn sâu đến đâu, giữ bao lâu, buông lúc nào.
Ở Nam Bộ, người học đờn tài tử thường được dạy theo "lòng bản", tức bộ khung giai điệu của một bài. Thầy đờn lòng bản cho trò thuộc trước, sau đó mới dạy cách "hoa lá", tức thêm nốt luyến láy, biến tấu sao cho đẹp. Hai người cùng thuộc một lòng bản có thể đờn ra hai bản khác nhau, và đó là điều được coi trọng: mỗi người một ngón riêng nhưng không ra khỏi khung bài.
Thầy truyền ngón thường không giải thích nhiều. Câu dạy hay gặp là "nghe đây", rồi thầy đờn một câu. Trò tự tìm cách cho tay mình ra được tiếng đó. Cách dạy có vẻ khắt khe, nhưng nó buộc người học phát triển đôi tai, thứ quan trọng nhất của một người chơi nhạc truyền thống.
Chữ nhạc và những công cụ ghi nhớ của người xưa
Hò, xự, xang, xê, cống. Âm nhạc truyền thống Việt có hệ chữ nhạc riêng, gọi các bậc âm bằng những tên hò, xự, xang, xê, cống, liu, ú. Người học đàn, học hát ở nhiều vùng dùng các chữ này để đọc thầm giai điệu, giống như cách người học nhạc phương Tây đọc đồ, rê, mi.
Ghi chữ nhạc trên giấy. Một số thầy đàn có ghi bài bản bằng chữ nhạc thành những cuốn sổ riêng. Các bản ghi này chỉ ghi khung, không ghi được các ngón nhấn rung, nên người ngoài cầm sổ vẫn không đàn được nếu không có thầy.
Câu đọc nhịp. Với nhạc cụ gõ, nhiều nơi dạy bằng câu đọc mô phỏng tiếng trống, tiếng phách. Trò đọc thuộc chuỗi âm, rồi mới chuyển sang tay.
Lời ca như cái neo. Với hát, chính lời ca dao là công cụ ghi nhớ. Thuộc lời là thuộc gần hết dáng giai điệu, vì giai điệu bám theo dấu giọng của lời.
Được và mất của lối dạy truyền khẩu
Lối dạy truyền miệng không phải lúc nào cũng tốt hơn hay kém hơn lối dạy có ký âm. Bảng dưới đặt hai mặt cạnh nhau:
| Khía cạnh | Lối truyền khẩu, truyền ngón giữ được | Điểm yếu của nó |
|---|---|---|
| Cái hồn của bài | Ngón nhấn, luyến láy, cách nhả chữ, hơi thở | Phụ thuộc vào trí nhớ và tài của người dạy |
| Sự đa dạng | Mỗi làng, mỗi thầy một lối riêng, nhiều dị bản | Khó xác định đâu là bản gốc, dễ tranh cãi |
| Quan hệ thầy trò | Học cả nếp ứng xử, lề lối của nghề | Trò ít, thầy mất là bài có thể mất theo |
| Tốc độ học | Học sâu, nhớ lâu | Chậm, cần nhiều năm, khó mở rộng cho đông người |
| Khả năng phục hồi | Người từng học vẫn nhớ sau nhiều năm | Khi đã đứt một thế hệ thì rất khó khôi phục chỉ từ tài liệu |
Chính điểm yếu cuối cùng là lý do nhiều lối hát rơi vào tình trạng nguy cấp vào giữa và cuối thế kỷ 20. Khi một thế hệ không còn học, những gì nằm trong trí nhớ của người già không có chỗ lưu lại ngoài vài bản thu âm rời rạc.
Học vai trên sân khấu: truyền nghề trong gánh chèo, gánh hát
Với sân khấu như chèo, tuồng, hát bội, truyền nghề không chỉ là dạy hát mà là dạy cả một vai: cách đi, cách đứng, cách cầm quạt, cách nhìn, cách nói lối. Người học thường bắt đầu bằng việc theo gánh, làm đủ việc vặt, đứng trong cánh gà xem người đi trước diễn hết đêm này qua đêm khác. Lời kể của nhiều nghệ sĩ lớp trước hay nhắc tới những năm tháng chỉ được đóng quân lính, thị tì, đứng hầu không lời, trước khi được giao một vai có câu hát.
Cách học ấy giống học việc ở làng nghề: thầy không giảng bài, trò tự quan sát và tự tập, đến khi đủ tay nghề thì được giao việc. Khi một vai chính bị thiếu người vì ốm đau, người đã thuộc vai qua nhiều đêm đứng xem có thể được đẩy ra thay. Nhiều nghệ sĩ kể rằng lần đầu được diễn vai lớn đến với họ đúng theo cách bất ngờ như vậy.
Điểm đáng chú ý là trong gánh hát, vai được truyền gần như nguyên khối: một đào thương học vai từ một đào thương đi trước, giữ những động tác, những câu nói lối đã thành khuôn của vai đó. Nhờ vậy những lớp diễn nổi tiếng được giữ lại qua nhiều thế hệ diễn viên. Mặt trái là khi một lớp nghệ sĩ giỏi mất đi mà chưa kịp truyền, cả một cách diễn vai có thể mất theo, chỉ còn lại qua lời kể và vài đoạn phim tư liệu.
Lớp học hôm nay kết hợp cũ và mới thế nào
Ở các câu lạc bộ, lớp học di sản hiện nay, cách dạy thường là hỗn hợp. Người dạy vẫn hát từng câu cho học viên hát theo, nhưng học viên được phép ghi âm buổi học để về nhà nghe lại. Nhiều nơi phát lời in sẵn, có lớp dùng thêm ký âm để người đã quen nhạc phương Tây có chỗ bám, rồi nhấn mạnh rằng bản ký âm chỉ là cái khung.
Việc ghi âm, ghi hình nghệ nhân cao tuổi là một bước rất quan trọng trong bảo vệ di sản, vì nó giữ lại một phần cái mà lối truyền khẩu dễ làm mất. Tuy vậy, người làm nghề thường nhắc rằng nghe bản thu không thay được việc ngồi trước thầy. Bản thu không sửa lỗi cho bạn, không cho biết bạn đang lấy hơi sai, không dạy bạn cách ngồi, cách chào, cách đáp lời bạn hát.
Nếu bạn đang học một lối hát dân gian, cách hợp lý là coi bản thu và bản ký âm như sổ tay, còn người dạy là nguồn chính. Hãy hỏi thầy vì sao chỗ này lại luyến như thế, câu này ở làng khác hát ra sao. Những câu hỏi ấy giúp bạn hiểu bài như một thứ sống, có lịch sử và có biến thể, chứ không phải một bản cố định cần sao chép.
Câu hỏi thường gặp
Truyền khẩu có phải là học thuộc lòng không?
Không hẳn. Truyền khẩu có học thuộc lời và giai điệu, nhưng điều chính là học cách người thầy xử lý từng chữ, từng hơi, từng chỗ luyến. Hai người cùng thuộc một bài mà học hai thầy khác nhau có thể hát ra hai cách khác nhau.
Học đàn cổ truyền bằng bản nhạc có được không?
Được ở mức làm quen. Bản nhạc giúp nắm khung giai điệu và nhịp, nhưng các ngón nhấn, rung, vuốt quyết định cái hay của đàn Việt thì gần như phải học bằng tai và mắt, tốt nhất là ngồi cạnh người đàn giỏi.
Lòng bản trong đờn ca tài tử là gì?
Lòng bản là bộ khung giai điệu của một bài đờn tài tử. Người học thuộc lòng bản trước, sau đó mới học thêm nốt hoa mỹ. Mỗi người đờn có thể làm đẹp bài theo cách riêng nhưng vẫn phải giữ đúng lòng bản để hoà được với người khác.
Hò, xự, xang, xê, cống là gì?
Đó là tên các bậc âm trong hệ chữ nhạc truyền thống của Việt Nam, dùng để đọc và ghi giai điệu. Người học nhạc cổ ở nhiều vùng dùng các chữ này như cách người học nhạc phương Tây dùng đồ, rê, mi, dù tương quan cao độ không hoàn toàn giống.
Có nên ghi âm khi đi học hát với nghệ nhân không?
Nên hỏi ý người dạy trước. Phần lớn người dạy hiện nay đồng ý cho học viên ghi âm để ôn tập. Bản ghi giúp bạn ôn, nhưng đừng thay việc tập trực tiếp, vì chỉ khi hát trước người dạy bạn mới được sửa những lỗi mình không tự nghe ra.
Vì sao nhiều làn điệu dân ca đã bị mất?
Phần lớn vì chuỗi truyền khẩu bị đứt: lớp trẻ không còn học, môi trường hát như hội làng, lao động tập thể thay đổi, người biết hát mất đi mà không kịp ghi lại. Khi không còn ai nhớ và không có bản thu, làn điệu rất khó phục hồi.