CoTruyen.comCổ Truyền
Làng nghề thủ công cổ truyền

Nghề chằm nón lá: từ làng Chuông xứ Bắc đến chiếc nón bài thơ xứ Huế

Một chiếc nón lá đi qua phơi lá, là lá, chuốt vòng, xếp lá, chằm và quét dầu. Bài so cách làm nón làng Chuông với nón bài thơ Huế và chuyện giữ nghề.

Close-up of a woman hands stitching palm leaves onto a conical hat frame in a village house near Hanoi, bamboo rings stacked beside her, faces out of frame, natural light

Một chiếc nón lá được làm bằng cách xếp những lớp lá đã phơi trắng và là phẳng lên một khung gồm nhiều vòng tre chuốt tròn, rồi dùng kim và sợi khâu cố định từng vòng một; công đoạn khâu ấy người làm nghề gọi là chằm nón. Làng Chuông ở phía nam Hà Nội và các làng nón quanh Huế là hai nơi được nhắc nhiều nhất khi nói về nghề này, mỗi nơi một dáng nón, một cách làm.

Bài này không bàn chuyện chọn nón làm quà hay mang nón đi xa. Bài đi vào nghề: lá nón đến từ đâu, vì sao phải phơi sương và là lá, vòng nón chuốt thế nào, mũi chằm khác nhau ra sao, và chiếc nón bài thơ có gì khác với nón xứ Bắc. Hiểu những điều này, bạn sẽ nhìn một chiếc nón bình thường bằng con mắt khác hẳn.

Lá nón, vòng tre và sợi chằm: ba thứ làm nên chiếc nón

Lá dùng làm nón là lá non của một loài cây họ cọ, người trong nghề quen gọi là lá nón. Lá được cắt khi còn búp, chưa xoè hẳn, để có độ mềm và màu sáng. Các làng nón ở đồng bằng thường không tự trồng mà mua lá từ những vùng có rừng cọ, nhiều nơi ở miền Trung. Lá về làng ở dạng bó, còn xanh hoặc đã phơi sơ, và chất lượng lá là thứ đầu tiên người thợ xem.

Khung nón gồm nhiều vòng tròn nhỏ dần từ vành xuống chóp. Vòng được chuốt từ tre hoặc giang, chẻ thành nan mảnh, vót tròn đều rồi uốn khép lại. Số vòng, độ to nhỏ của từng vòng tuỳ từng kiểu nón và từng làng. Người chuốt vòng giỏi làm ra những vòng tròn đều, mối nối gọn, vì vòng lệch thì chiếc nón sẽ méo dù chằm khéo đến đâu.

Sợi chằm xưa thường là sợi lấy từ bẹ cây móc hoặc các loại sợi thực vật, về sau nhiều nơi dùng chỉ cước trong suốt cho bền và ít lộ mũi. Kim chằm là loại kim dài, mảnh. Ngoài ra còn có khuôn nón: một khung gỗ hình chóp có các rãnh để đặt vòng, giúp người thợ giữ dáng nón trong lúc làm.

Ba thứ ấy nghe đơn giản, nhưng mỗi thứ là một nghề nhỏ. Ở nhiều làng, có nhà chuyên chuốt vòng, có nhà chuyên xử lý lá, có người chuyên chằm. Chiếc nón hoàn chỉnh là kết quả của sự phân công đó.

Các bước làm một chiếc nón lá

Trình tự dưới đây là khung chung; từng làng có tên gọi và thao tác riêng ở mỗi bước, nhất là ở khâu xử lý lá và kiểu mũi chằm.

  1. Phơi lá. Lá được trải ra phơi cho ráo, nhiều nơi phơi qua sương đêm rồi phơi nắng nhẹ, lặp lại để lá chuyển sang màu trắng ngà và dẻo. Phơi nắng gắt quá lá giòn, phơi thiếu lá còn xanh.
  2. Là lá. Từng tàu lá được là phẳng bằng cách miết trên một bề mặt kim loại được làm nóng, người thợ dùng nắm giẻ ấn nhẹ cho lá duỗi ra. Lá là xong phẳng, mịn và bóng hơn hẳn.
  3. Chọn và cắt lá. Lá được phân loại theo độ trắng và độ dày, cắt theo chiều dài cần dùng. Lá đẹp dành cho lớp ngoài, lá kém hơn lót bên trong.
  4. Chuốt và đặt vòng. Các vòng tre đã chuốt được xếp lên khuôn nón theo đúng thứ tự từ to đến nhỏ, cách đều nhau.
  5. Xếp lá. Lá được xếp lên khung thành từng lớp, đầu lá chụm về chóp, các lá gối lên nhau đều đặn. Với nón cần hai lớp lá, lớp lót bên trong có thể là bẹ hoặc mo tre mỏng tuỳ kiểu.
  6. Chằm. Người thợ dùng kim xuyên sợi qua lá, buộc lá vào từng vòng, đi vòng quanh chiếc nón từ chóp xuống vành hoặc ngược lại. Mũi chằm phải đều và kín, không làm rách lá.
  7. Nức vành và hoàn thiện. Vành nón được gia cố chắc, cắt gọn phần lá thừa, sau đó quét một lớp dầu bóng hoặc nhựa thông để chống thấm, rồi buộc quai.

Một chiếc nón thường được làm qua tay nhiều người, nhưng khâu chằm vẫn là khâu đòi hỏi tay nghề và thời gian nhiều nhất. Thợ quen tay chằm nhanh mà đều; người mới học thường để lại mũi to, mũi lệch, nhìn kỹ là thấy.

Làng Chuông: nón xứ Bắc và chợ phiên nón

Làng Chuông ở ngoại thành phía nam Hà Nội được nhiều người biết đến như một làng nón lâu đời của miền Bắc. Nón Chuông thường có dáng chóp cân, lá dày vừa, chằm chắc, dùng được trong lao động hằng ngày lẫn những dịp cần trang trọng hơn. Người làng nói rằng chiếc nón tốt phải đội được lâu, không bung mũi khi gặp mưa nắng.

Một nét riêng của làng Chuông là chợ phiên chuyên bán nón và nguyên liệu làm nón, họp theo những ngày cố định trong tháng âm lịch. Ở chợ, người ta mua bán không chỉ nón thành phẩm mà cả lá, vòng, khung, sợi. Chợ phiên vì thế là nơi nối những người làm từng khâu với nhau, và cũng là nơi người ngoài dễ hình dung nhất về cả một hệ sinh thái nghề.

Trong làng, nghề nón thường gắn với phụ nữ và được truyền trong nhà. Trẻ con lớn lên thấy mẹ, bà ngồi chằm nón bên hiên, tập cầm kim từ việc khâu những vòng dễ. Nhiều người già trong làng vẫn chằm nón như một thói quen, vừa làm vừa trò chuyện.

Cũng như nhiều làng nghề ven đô, làng Chuông đối mặt với chuyện người trẻ ra thành phố làm việc khác. Nhưng nhu cầu nón cho biểu diễn, quà lưu niệm, chụp ảnh áo dài và trang trí đã giúp nghề có thêm khách. Một số người làm nón thêu hoa, vẽ hình lên lá, hay làm nón cỡ nhỏ trang trí, mở rộng thêm đầu ra cho làng.

Nón bài thơ xứ Huế: hai lớp lá và hình ẩn bên trong

Nón Huế nổi tiếng với dáng thanh, lá mỏng, và đặc biệt là kiểu nón bài thơ. Ở loại nón này, giữa hai lớp lá mỏng người thợ đặt những hình cắt giấy, có khi là cảnh sông núi xứ Huế, có khi là vài câu thơ. Khi đội nón và đi ra chỗ sáng, ánh nắng xuyên qua lá làm hình và chữ hiện ra mờ mờ bên trong; đứng trong bóng râm thì gần như không thấy.

Để làm được như vậy, lá nón Huế phải được chọn loại mỏng, là thật phẳng, và lớp lá phải đều để hình bên trong không bị loang lổ. Mũi chằm cũng phải mảnh và khít, vì nón mỏng hơn nên kém chịu lực hơn nón xứ Bắc. Những yêu cầu ấy khiến nón bài thơ tốn nhiều công hơn nón thường.

Quanh Huế có nhiều làng làm nón, mỗi làng giữ một vài khâu mạnh riêng. Nghề nón ở đây cũng gắn với hình ảnh người phụ nữ Huế trong áo dài, nên chiếc nón đã trở thành một biểu tượng của vùng đất cố đô trong mắt du khách. Điều đó vừa giúp nghề có thị trường, vừa tạo áp lực làm nhanh, làm nhiều, đôi khi đánh đổi chất lượng.

Ngoài nón lá thông dụng, văn hoá Việt còn có những kiểu nón khác như nón quai thao vành rộng, mặt phẳng, gắn với các liền chị quan họ vùng Kinh Bắc. Mỗi kiểu nón đòi hỏi khung và cách chằm khác, và nhiều kiểu nay chỉ còn ít người làm được, chủ yếu để phục vụ biểu diễn và lễ hội.

Nhìn một chiếc nón để đoán tay nghề người làm

Mặt lá. Lá đẹp trắng đều, không vệt xanh, không đốm thâm, mặt phẳng và hơi bóng. Lá được là kỹ sẽ không gợn sóng khi nhìn nghiêng. Chỗ lá nối nhau phải gối đều, không hở thành khe sáng khi soi lên trời.

Mũi chằm. Mũi chằm khéo nhỏ, đều khoảng cách, chạy thành những đường tròn song song theo từng vòng. Mũi to, mũi thưa hay mũi lệch hàng thường là dấu hiệu nón làm vội. Sợi chằm phải căng vừa, không kéo rách lá.

Dáng chóp. Đặt nón ngửa lên mặt phẳng rồi xoay nhẹ, nón tốt quay đều, chóp không lệch về một phía. Chóp lệch thường do vòng tre không tròn hoặc đặt vòng không cân trên khuôn.

Vành nón. Vành là chỗ chịu lực nhiều nhất khi cầm, đội và treo. Vành chắc, nức gọn, không xơ lá ở mép thì chiếc nón dùng được lâu. Đây cũng là chỗ người thợ giỏi kỹ nhất.

Lớp dầu phủ. Lớp dầu chống thấm cần mỏng và đều, không đọng giọt, không làm lá ố. Phủ quá dày khiến nón nặng và nhanh ngả màu.

So sánh nhanh nón làng Chuông và nón Huế

Đây là những khác biệt thường được người trong nghề nhắc tới, mang tính khái quát. Trong thực tế, mỗi làng, mỗi nhà lại có biến thể riêng.

Khía cạnhNón làng Chuông (xứ Bắc)Nón Huế, nón bài thơ
DángChóp cân, vành vừa, cứng cápDáng thanh, nhẹ, vành mảnh
LáLá dày hơn, chịu được dùng hằng ngàyLá mỏng, chọn kỹ để ánh sáng xuyên qua
Lớp lótCó lớp lót giúp nón chắcHai lớp lá mỏng, giữa có thể kẹp hình cắt giấy
Mũi chằmChắc, đều, ưu tiên độ bềnMảnh, khít, ưu tiên vẻ thanh
Công dụng gốcChe mưa nắng khi làm đồng, đi chợĐi lại hằng ngày, gắn với trang phục áo dài
Nét nhận diệnChợ phiên nón, sự phân công nhiều khâuHình và thơ ẩn hiện khi soi nắng

Bảng trên không xếp loại nón nào hơn nón nào. Mỗi kiểu nón sinh ra từ nhu cầu và thẩm mỹ của vùng đất mình, và cả hai đều đòi hỏi tay nghề cao.

Giữ nghề nón trong đời sống hôm nay

Ngày nay, mũ vải và mũ bảo hiểm đã thay chiếc nón trong phần lớn sinh hoạt thường ngày ở thành phố. Ở nông thôn, nón vẫn còn được dùng khi làm đồng, đi chợ, nhưng không còn phổ biến như trước. Nhu cầu nón chuyển dần sang biểu diễn văn nghệ, chụp ảnh, quà lưu niệm và trang trí.

Sự chuyển dịch ấy đặt ra câu hỏi về chất lượng. Nón làm cho khách du lịch đôi khi được làm nhanh, lá mỏng, chằm thưa, đội vài lần là bung. Trong khi đó những người thợ giỏi vẫn làm nón theo cách cũ, mất nhiều thời gian hơn. Người mua hiểu nghề sẽ biết trân trọng một chiếc nón chằm kỹ, và đó cũng là cách gián tiếp giữ nghề.

Một số trường học và nhà văn hoá đã đưa hoạt động làm nón vào các buổi trải nghiệm cho học sinh, chủ yếu ở các khâu an toàn như xếp lá, thử chằm vài mũi. Những hoạt động này giúp trẻ hiểu chiếc nón không tự nhiên mà có. Khâu là lá dùng bề mặt nóng nên chỉ người lớn làm.

Nếu bạn có dịp xem người thợ chằm nón, bạn thử dõi theo nhịp tay: kim đi vào, sợi kéo ra, ngón tay ấn lá, đều đặn như nhịp thở. Trong nhịp tay ấy có cả trăm năm kinh nghiệm được truyền qua bao thế hệ phụ nữ trong làng.

Câu hỏi thường gặp

Chằm nón là gì?

Chằm nón là công đoạn dùng kim và sợi khâu cố định các lớp lá vào những vòng tre của khung nón. Đây là khâu tốn thời gian và cần tay nghề nhất, vì mũi chằm phải đều, kín và không làm rách lá thì chiếc nón mới bền và đẹp.

Vì sao lá nón phải phơi sương và là phẳng?

Phơi sương rồi phơi nắng nhẹ giúp lá chuyển sang màu trắng ngà và dẻo hơn. Sau đó lá được là phẳng trên bề mặt nóng để duỗi thẳng, mịn và bóng. Lá xử lý tốt thì chiếc nón trắng đều, ít giòn và giữ dáng lâu.

Nón bài thơ có gì đặc biệt?

Nón bài thơ xứ Huế gồm hai lớp lá mỏng, ở giữa kẹp những hình cắt giấy hoặc vài câu thơ. Khi đội nón ra nắng, ánh sáng xuyên qua lá làm hình và chữ hiện mờ bên trong. Muốn vậy lá phải mỏng, đều và mũi chằm phải rất khít.

Làng Chuông nổi tiếng về điều gì?

Làng Chuông ở phía nam Hà Nội nổi tiếng với nghề làm nón lâu đời và chợ phiên chuyên bán nón cùng nguyên liệu làm nón như lá, vòng, khung, sợi. Nón Chuông có dáng chóp cân, chắc chắn, phù hợp với cả việc dùng hằng ngày.

Vòng nón được làm từ gì?

Vòng nón được chuốt từ tre hoặc giang, chẻ thành nan mảnh, vót cho tròn đều rồi uốn khép lại. Mỗi chiếc nón có nhiều vòng nhỏ dần từ vành tới chóp. Vòng lệch hay mối nối to sẽ làm nón méo, nên chuốt vòng cũng là một khâu cần thợ quen tay.

Có nên cho trẻ nhỏ thử làm nón không?

Trẻ có thể thử những khâu an toàn như xếp lá lên khung hay khâu vài mũi chằm với kim đầu tù dưới sự trông của người lớn. Khâu là lá dùng bề mặt nóng và khâu chuốt vòng dùng dao nên chỉ người lớn làm. Mục đích chính là để trẻ hiểu công sức trong chiếc nón.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183