CoTruyen.comCổ Truyền
Làng nghề thủ công cổ truyền

Nghề làm giấy dó: từ vỏ cây dó đến tờ giấy xeo tay ở làng Dương Ổ

Giấy dó làm từ vỏ cây dó qua ngâm, nấu, giã, xeo, ép và phơi. Bài đi qua từng công đoạn, nghề giấy Yên Thái xưa, Dương Ổ nay và vì sao tờ giấy bền dai.

Rows of handmade do paper sheets drying on a sunlit brick wall in a northern Vietnamese craft village, a woman seen from behind peeling one sheet, soft morning haze

Giấy dó là loại giấy làm tay từ lớp vỏ trong của cây dó: vỏ được ngâm, nấu, giã nhuyễn thành bột, hoà vào bể nước có nhớt cây, rồi người thợ dùng khung mành tre "xeo" từng lớp mỏng, ép ráo và phơi khô. Tờ giấy làm ra có thớ xơ dài, mặt hơi sần, cầm lên thấy nhẹ mà kéo không dễ rách. Người Việt đã dùng loại giấy này để viết chữ Hán Nôm, in sách ván khắc, in tranh dân gian và làm đủ thứ đồ dùng trong nhà suốt nhiều thế kỷ.

Bài này đi theo đúng đường đi của nghề: cây dó lấy ở đâu, mỗi công đoạn làm gì và vì sao phải làm thế, làng giấy nổi tiếng xưa ở ven Hồ Tây và làng giấy còn giữ lửa hôm nay ở Bắc Ninh. Bài không bàn chuyện mua giấy hay chọn giấy để vẽ; mục đích là để bạn cầm một tờ giấy dó lên thì hiểu được bao nhiêu bàn tay đã đi qua nó.

Cây dó và lớp vỏ làm nên tờ giấy

Cây dó dùng làm giấy là loài cây thân gỗ nhỏ mọc ở vùng đồi núi phía Bắc, nhiều nhất ở các tỉnh trung du và miền núi. Thứ người làm giấy cần không phải là gỗ mà là lớp vỏ: phần vỏ trong của cây chứa những sợi xơ dài, mảnh và dai. Chính chiều dài của sợi xơ quyết định độ bền của tờ giấy. Giấy công nghiệp làm từ bột gỗ nghiền thường có sợi ngắn hơn và được xử lý bằng hoá chất mạnh, nên khi để lâu dễ giòn và ngả vàng hơn.

Ngày trước, người miền núi bóc vỏ dó rồi bó thành từng bó, gánh xuống chợ hay bán cho lái buôn mang về các làng giấy dưới xuôi. Làng làm giấy vì thế hiếm khi tự trồng dó; họ là người chế biến. Mối quan hệ giữa vùng có nguyên liệu và làng có tay nghề này kéo dài nhiều đời, và khi rừng dó thu hẹp, nghề giấy dưới xuôi cũng chao đảo theo.

Vỏ dó khi mua về chia thành lớp ngoài sẫm màu và lớp trong trắng ngà. Người thợ phải tách bỏ lớp vỏ ngoài sần sùi, vì nếu để lẫn vào bột, tờ giấy sẽ lấm tấm đốm đen. Việc bóc lớp vỏ đen này làm bằng tay, tốn công nhưng không bỏ qua được. Nhiều người trong nghề nói rằng nhìn độ sạch của tờ giấy là biết công đoạn bóc vỏ có được làm kỹ hay không.

Ngoài cây dó, một số nơi còn trộn hoặc thay bằng vỏ cây khác, sợi tre, hay xơ cây dướng để làm các loại giấy thô hơn. Những loại giấy ấy vẫn được gọi chung là giấy dó trong cách nói thường ngày, nhưng người làm nghề phân biệt khá rõ theo màu, độ mịn và mục đích dùng.

Từng công đoạn làm giấy dó

Mỗi làng có thể khác nhau đôi chút về thứ tự và tên gọi, nhưng một mẻ giấy dó cổ truyền thường đi qua những bước dưới đây. Cả quy trình kéo dài nhiều ngày, phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết.

  1. Ngâm vỏ. Vỏ dó được ngâm nước cho mềm, thường ngâm cùng nước vôi để làm mục bớt phần keo nhựa bám quanh sợi xơ. Thời gian ngâm tính bằng ngày, tuỳ độ già của vỏ.
  2. Nấu. Vỏ đã ngâm được xếp vào nồi lớn hoặc lò nấu, đun nhiều giờ liền cho sợi tơi ra. Đây là công đoạn nóng và nặng, xưa làm bằng củi, nay nhiều nhà chuyển sang lò cải tiến.
  3. Rửa và bóc lựa. Vỏ nấu xong được mang ra ao hoặc bể rửa sạch vôi, rồi ngồi nhặt từng mẩu vỏ đen, mắt vỏ còn sót. Khâu này quyết định tờ giấy trắng hay lốm đốm.
  4. Giã. Vỏ sạch được giã trong cối bằng chày tay hoặc chày đạp chân cho tới khi thành một khối bột nhuyễn. Tiếng chày giã dó từng là âm thanh quen thuộc của cả một vùng làng giấy.
  5. Đãi bột. Bột được hoà vào nước, khuấy và lọc qua rá hay vải để bỏ phần xơ thô chưa tơi. Phần bột mịn còn lại mới đem đi xeo.
  6. Pha bể xeo. Bột mịn đổ vào bể nước lớn, thêm nhớt lấy từ một loại cây rừng mà người trong nghề gọi là cây mò. Nhớt giúp sợi xơ lơ lửng đều trong nước và giúp các tờ giấy ướt xếp chồng lên nhau mà không dính chặt.
  7. Xeo. Người thợ cầm khung xeo có mành tre mảnh, nhúng xuống bể, hớt một lớp nước bột rồi lắc nhẹ cho bột trải đều trên mành. Nước chảy qua kẽ mành, để lại một lớp xơ mỏng. Lật khung, áp lớp ấy xuống chồng giấy ướt.
  8. Ép. Chồng giấy ướt được ép bằng đòn gỗ hoặc kích để nước thoát ra từ từ. Ép vội, giấy dễ bục; ép chậm và đều, tờ giấy ra phẳng và chắc.
  9. Bóc và phơi. Từng tờ được bóc khỏi chồng giấy đã ráo, dán lên tường gạch hay phơi trên dàn cho khô, rồi gỡ xuống, xếp, đếm và đóng thành tập.

Trong cả chuỗi ấy, khâu xeo được coi là khó học nhất. Độ dày của tờ giấy phụ thuộc vào cái lắc tay của người thợ: hớt nhiều nước bột thì giấy dày, lắc lệch thì một mép dày một mép mỏng. Thợ giỏi xeo cả ngày mà các tờ gần như đều nhau, điều mà người mới học phải mất rất lâu mới làm được.

Làng giấy Yên Thái và ven Hồ Tây ngày xưa

Nói tới nghề giấy dó ở đất Thăng Long, người ta hay nhắc vùng Kẻ Bưởi ven Hồ Tây, trong đó có làng Yên Thái, cùng các làng lân cận như Hồ Khẩu, Đông Xã, Nghĩa Đô. Vùng này từng nổi tiếng tới mức đi vào ca dao, ví dụ hai câu quen thuộc được truyền miệng: “Mịt mù khói toả ngàn sương / Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ” (lời dân gian). Nhịp chày trong câu chính là tiếng chày giã dó.

Mỗi làng trong vùng có thế mạnh riêng về loại giấy. Theo các tài liệu về nghề giấy Thăng Long, có làng chuyên giấy viết, có làng chuyên giấy để in, có nơi làm loại giấy dày dùng cho văn bản quan trọng. Giấy làm ở Nghĩa Đô được nhắc nhiều với loại giấy sắc, tức giấy dùng để viết sắc phong. Những chi tiết cụ thể hơn về từng làng làm loại giấy nào, mỗi sách ghi một kiểu, nên bạn nên coi đây là bức tranh chung chứ không phải bảng phân công cứng.

Khi Hà Nội mở rộng và đô thị hoá, đất làng giấy ven hồ dần thành phố. Nghề giấy ở vùng này gần như không còn sản xuất theo lối cũ; cái còn lại là tên đất, là đình làng, là ký ức của các cụ và những bài viết nghiên cứu. Đây là một ví dụ điển hình cho việc một nghề có thể mất đi không phải vì không ai cần sản phẩm, mà vì không gian sống của nghề không còn.

Điều đáng chú ý là nghề giấy không chỉ có ở người Kinh. Một số cộng đồng dân tộc ở miền núi phía Bắc như người Dao, người Tày cũng tự làm giấy bản từ vỏ cây để chép sách, viết văn bản trong nhà. Kỹ thuật có nét khác, khung xeo và cách phơi khác, nhưng cùng một nguyên lý: lấy sợi xơ từ vỏ cây, trải mỏng trên mành rồi để khô.

Dương Ổ hôm nay: làng giấy còn giữ lửa ở Bắc Ninh

Làng Dương Ổ ở Bắc Ninh là một trong những nơi còn làm giấy dó thủ công khi nghề này đã thưa thớt ở nhiều nơi khác. Đây cũng là làng giấy gắn với tranh Đông Hồ, vì hai làng ở không xa nhau trong vùng Kinh Bắc và tranh Đông Hồ in trên giấy dó quét hồ điệp. Mối liên hệ ấy cho thấy làng nghề hiếm khi đứng một mình; một nghề cần nghề khác làm nguyên liệu và làm đầu ra.

Cũng như nhiều làng nghề vùng ven đô, Dương Ổ đi theo hai hướng song song. Phần lớn sản xuất của làng từ lâu đã chuyển sang giấy công nghiệp, giấy tái chế làm bằng máy, phục vụ nhu cầu đại trà. Bên cạnh đó vẫn có một số hộ giữ nghề giấy dó tay, làm theo đơn đặt hàng của người vẽ tranh, người làm thư pháp, các xưởng in ván khắc, các dự án phục chế tài liệu và khách nước ngoài quan tâm tới giấy thủ công.

Người làm giấy dó hôm nay thử nghiệm nhiều hơn ngày xưa. Có tờ giấy được xeo dày để làm bìa, có tờ ép hoa lá vào giữa lớp bột, có tờ nhuộm màu tự nhiên. Những thay đổi ấy giúp giấy dó có thêm chỗ đứng trong mỹ thuật, trang trí và quà tặng, dù vẫn gây tranh luận trong giới yêu nghề về chuyện thế nào mới là giấy dó đúng nghĩa.

Một điều cần nói rõ là bài này không giới thiệu hộ hay xưởng nào cụ thể. Nếu bạn muốn tìm hiểu tận nơi, cách tốt nhất là hỏi qua chính quyền địa phương hoặc nhà văn hoá thôn, nơi biết rõ hộ nào còn làm và có tiện đón người tới xem hay không.

Giấy dó khác giấy công nghiệp ở đâu

Bảng dưới so sánh ở mức đặc tính chung, giúp bạn hiểu vì sao người in tranh, viết chữ và phục chế tài liệu vẫn tìm tới giấy dó. Đặc tính thật của từng tờ còn tuỳ tay thợ và nguyên liệu.

Tiêu chíGiấy dó làm tayGiấy công nghiệp thông dụng
Nguyên liệuVỏ trong cây dó, sợi xơ dàiBột gỗ hoặc giấy tái chế, sợi ngắn hơn
Cách tạo tờXeo từng tờ bằng khung mànhMáy trải bột thành cuộn liên tục
Thớ giấyThấy rõ thớ xơ khi soi sáng, mép tờ hơi xơĐồng đều, mép cắt thẳng
Độ daiMỏng nhưng khó xé, gấp nhiều lần ít gãyTuỳ loại, giấy mỏng dễ rách hơn
Thấm mực, thấm màuHút mực nhanh, nét loang nhẹ nếu không xử lýThường được tráng hoặc gia keo để mực không loang
Độ bền theo thời gianVăn bản cũ trên giấy dó còn giữ được tới nay nếu cất kỹGiấy có tính axit dễ giòn và ngả vàng sau nhiều năm

Vì giấy dó thấm nhanh, người viết thư pháp và vẽ tranh thường phải làm quen một thời gian. Có loại giấy dó được xử lý thêm như quét hồ điệp, nhúng phèn hay hồ để mặt giấy bớt thấm, mỗi cách cho một mặt giấy khác nhau.

Những chỗ tinh tế ít người để ý trong nghề giấy

Nước quyết định nhiều hơn người ta tưởng. Làng giấy xưa thường gần nguồn nước sạch, vì nước rửa vỏ và nước bể xeo mà đục thì giấy xỉn màu. Một phần lý do vùng ven Hồ Tây từng hợp với nghề giấy nằm ở chính chuyện nước.

Thời tiết là ông chủ thứ hai. Giấy phơi tường cần nắng và gió. Mùa nồm ẩm miền Bắc, giấy khó khô, dễ ẩm mốc, nên nhiều nhà phải giảm sản lượng. Người làm nghề quen tính lịch làm việc theo trời.

Nhớt cây là bí quyết của từng nhà. Lượng nhớt pha vào bể nhiều hay ít ảnh hưởng tới việc tờ giấy có tách khỏi nhau dễ không và mặt giấy mịn tới đâu. Mỗi người thợ có kinh nghiệm riêng, thường không ghi ra giấy mà truyền bằng tay.

Một khung xeo cho một khổ giấy. Kích thước tờ giấy dó phụ thuộc vào khung xeo. Muốn làm khổ lớn phải có khung lớn và bể lớn, và cần hai người phối hợp. Vì thế giấy dó khổ to xưa nay vẫn hiếm hơn khổ thường.

Công việc phân theo giới và tuổi. Ở nhiều làng, việc nặng như nấu và giã thường do đàn ông làm, việc xeo, bóc, phơi nhiều phụ nữ đảm nhận. Trẻ con lớn lên trong làng học nghề từ việc phụ như đếm giấy, xếp giấy.

Giấy dó trong đời sống văn hoá và chuyện giữ nghề

Giấy dó gắn với nhiều thứ mà người Việt coi là di sản: sách in ván khắc, văn bản Hán Nôm, gia phả, sắc phong, tranh dân gian. Khi các thư viện, bảo tàng phục chế tài liệu cổ, họ cần chính loại giấy có sợi dài để vá, bồi những trang bị rách. Đó là một đầu ra ít người biết nhưng rất cần tay nghề cao.

Với người yêu nghệ thuật, giấy dó còn là chất liệu sáng tác. Hoạ sĩ vẽ mực nho, màu nước trên giấy dó vì nét loang mềm và thớ giấy hiện lên dưới màu. Người làm thư pháp chữ Việt cũng hay chọn giấy dó vì cảm giác cầm bút trên mặt giấy có thớ. Những nhu cầu này giúp nghề giấy tay có thêm khách, dù số lượng không lớn.

Cái khó của việc giữ nghề nằm ở chỗ quy trình nặng nhọc và kéo dài, trong khi thu nhập không cạnh tranh được với nhiều việc khác. Người trẻ trong làng cần thấy được nghề có tương lai mới ở lại. Các dự án dạy nghề, triển lãm, đưa học sinh về làng xem làm giấy, đặt hàng ổn định từ giới làm tranh và phục chế là những cách mà nhiều nơi đã thử.

Nếu có dịp đứng trước bức tường phơi giấy ở một làng nghề, bạn sẽ thấy từng tờ giấy mỏng như lá, ánh nắng xuyên qua, thớ xơ hiện lên như vân. Đó là lúc dễ hiểu nhất vì sao người ta vẫn nói về giấy dó với nhiều trìu mến: nó là thành quả của cây rừng, của nước, của nắng và của bàn tay người thợ.

Câu hỏi thường gặp

Giấy dó làm từ cây gì?

Giấy dó làm từ lớp vỏ trong của cây dó, một loài cây thân gỗ nhỏ mọc ở vùng đồi núi phía Bắc. Lớp vỏ này có sợi xơ dài và dai nên tờ giấy làm ra mỏng mà khó rách. Một số nơi trộn thêm vỏ cây khác để làm giấy thô hơn.

Vì sao gọi là xeo giấy?

Xeo là động tác nhúng khung mành tre xuống bể nước bột, hớt lên một lớp rồi lắc cho bột trải đều. Nước chảy qua kẽ mành, lớp xơ còn lại trên mành chính là một tờ giấy ướt. Đây là công đoạn cần tay nghề nhất trong cả quy trình.

Làng giấy Yên Thái bây giờ còn làm giấy không?

Vùng Kẻ Bưởi ven Hồ Tây, trong đó có Yên Thái, từng là trung tâm giấy dó nổi tiếng của Thăng Long. Sau quá trình đô thị hoá, nghề giấy ở đây gần như không còn sản xuất theo lối cũ, chỉ còn trong tên đất, đình làng và tài liệu.

Giấy dó và giấy điệp khác nhau thế nào?

Giấy điệp là giấy dó được quét thêm một lớp hồ trộn bột vỏ điệp nghiền mịn, nên mặt giấy có ánh lấp lánh nhẹ và bớt thấm hơn. Tranh Đông Hồ thường in trên loại giấy này. Nói cách khác, giấy điệp là một cách xử lý mặt giấy dó.

Vì sao giấy dó để lâu ít bị giòn?

Giấy dó có sợi xơ dài và quy trình làm ít dùng hoá chất mạnh, nên khi được cất ở nơi khô thoáng, tờ giấy giữ được độ dai lâu hơn nhiều loại giấy công nghiệp có tính axit. Tuy vậy giấy dó vẫn sợ ẩm, mối mọt và ánh nắng trực tiếp.

Muốn xem làm giấy dó thì nên hỏi ở đâu?

Bạn nên hỏi qua nhà văn hoá thôn hoặc chính quyền xã nơi có làng giấy để biết hộ nào còn làm thủ công và có tiện đón khách hay không. Nhiều hộ làm theo mùa và theo thời tiết, nên hỏi trước giúp bạn không đến vào lúc nghỉ làm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183