CoTruyen.comCổ Truyền
Làng nghề thủ công cổ truyền

Nghề mây tre đan làng Phú Vinh: chẻ nan, vót sợi và những kiểu đan cổ truyền

Từ cây tre, sợi mây đến chiếc giỏ đan khít là cả chuỗi chẻ, vót, phơi, đan, cạp. Bài kể nghề mây tre đan ở Phú Vinh, các kiểu đan và người giữ nghề hôm nay.

Elderly hands weaving thin rattan strands into a round basket on a porch in a village west of Hanoi, bundles of split bamboo leaning on a wall, soft afternoon light

Nghề mây tre đan là nghề chẻ tre, giang, nứa và vót sợi mây thành những nan, sợi mảnh đều, rồi đan, cài, nức chúng thành đồ dùng như rổ, rá, giỏ, nong, nia, hộp, khay và cả đồ nội thất. Làng Phú Vinh ở vùng Chương Mỹ cũ, phía tây Hà Nội, được biết đến với nghề đan mây tinh xảo, có những sản phẩm sợi mảnh, đan khít tới mức đựng được nước khi xưa.

Bài này đi vào nghề: nguyên liệu lấy ở đâu, nan và sợi được chuẩn bị ra sao, các kiểu đan cơ bản mà người thợ dùng, khâu cạp vành, nức miệng làm gì, và làng Phú Vinh đã giữ nghề thế nào khi đồ nhựa tràn ngập. Bài không bàn chuyện mua hay giữ đồ mây tre trong nhà; mục đích là để bạn hiểu chiếc giỏ đan tay trước mặt.

Tre, giang, nứa, mây: mỗi thứ một tính

Đồ đan cổ truyền của người Việt dùng nhiều loại vật liệu thực vật, mỗi thứ có tính riêng. Tre cứng, dày, chẻ được nan to khoẻ cho đồ chịu lực như thúng, sọt, nong. Giang và nứa mỏng thân, chẻ được nan mảnh, dẻo, hợp với rổ rá và đồ nhỏ. Mây là loại dây leo trong rừng, thân dài, dẻo dai, vót ra những sợi mảnh, tròn đều, dùng cho đồ đan tinh và đồ nội thất.

Người làm nghề chọn nguyên liệu theo tuổi cây và mùa. Tre non quá dễ mọt, già quá khó uốn. Mây phải đủ tuổi, thân đều, ít mắt. Nhiều làng đan ở đồng bằng không có sẵn mây, phải mua từ các vùng rừng núi, và chất lượng mây quyết định chất lượng sản phẩm tinh.

Ngoài ra, nghề đan còn dùng lá, cói, guột, bèo, lục bình và nhiều loại sợi khác tuỳ vùng. Mỗi vùng sinh thái sinh ra một truyền thống đan riêng: vùng sông nước có đồ đan lục bình, vùng ven biển có cói, vùng núi có mây, giang và tre. Phú Vinh nổi tiếng nhất với mây, bên cạnh tre và giang.

Sự hiểu biết về vật liệu là phần nền của nghề. Người thợ giỏi chỉ cần cầm thanh tre, sợi mây lên uốn thử là biết nó hợp làm gì, có bền hay không.

Chuẩn bị nan và sợi trước khi đan

Phần chuẩn bị nguyên liệu chiếm nhiều thời gian không kém phần đan. Thứ tự dưới đây là khái quát; mỗi loại vật liệu có cách xử lý riêng.

  1. Chặt và cắt khúc. Tre, giang được chặt về, cưa thành khúc theo chiều dài cần dùng. Mây được cắt, lột bỏ lá và bẹ gai.
  2. Chẻ nan. Khúc tre, giang được chẻ dọc thành thanh rồi chẻ mỏng dần thành nan. Nan ngoài cật cứng và bóng, nan ruột mềm hơn, mỗi loại dùng cho chỗ khác nhau.
  3. Vót. Nan và sợi mây được vót cho đều bản, đều dày, cạnh nhẵn. Người thợ thường kéo nan qua một lưỡi dao cố định hoặc qua lỗ khuôn để sợi ra tròn đều.
  4. Phơi và xử lý. Nan, sợi được phơi khô. Để chống mốc mọt, nhiều nơi xử lý bằng cách luộc, ngâm hoặc hun khói. Một số cách hun dùng chất sinh khí độc nên chỉ được làm ở xưởng có thông gió và người có kinh nghiệm.
  5. Nhuộm (nếu cần). Nan có thể được nhuộm màu để đan hoa văn. Màu xưa lấy từ vỏ cây, lá cây; nay nhiều nơi dùng phẩm màu.
  6. Phân loại. Nan và sợi được phân theo độ dày, độ dài, màu sắc, chuẩn bị cho từng phần của sản phẩm như thân, đáy, vành.

Một sản phẩm đan đẹp bắt đầu từ những sợi đều nhau. Nan dày mỏng không đều thì khi đan sẽ có chỗ khít chỗ hở, mặt đồ lồi lõm. Vì vậy ở nhiều làng, việc vót nan được giao cho người khéo tay và kiên nhẫn nhất.

Những kiểu đan cơ bản trong nghề

Đan lóng mốt. Nan ngang đi qua một nan dọc rồi xuống dưới một nan dọc, xen kẽ đều. Đây là kiểu đan đơn giản nhất, cho mặt đan phẳng, chắc, hay dùng cho đáy rổ, mặt nong.

Đan lóng đôi, lóng ba. Nan ngang đi qua hai hoặc ba nan dọc rồi mới xuống, mỗi hàng lệch đi một nan. Kiểu đan này tạo ra các đường chéo trên mặt đồ, trông như vân, đồng thời làm mặt đan dẻo hơn.

Đan nong mắt cáo. Nan được đan theo ba hướng, tạo thành những lỗ hình lục giác như mắt lưới. Kiểu này nhẹ, thoáng, hay dùng cho giỏ đựng, lồng, sọt cần thông gió.

Đan xoắn, đan vặn. Hai sợi cùng vặn quanh các nan dọc, thường dùng cho đồ tròn và đồ mây. Kiểu đan này khít, chắc, hay dùng ở những đường viền, đường gia cố.

Đan hoa. Kết hợp nan nhuộm màu với nan mộc theo một quy luật để tạo hoa văn hình học, chữ, hình vật. Người đan phải đếm nan rất chính xác, sai một nan là lệch cả mảng hoa.

Cạp vành và nức miệng: chỗ quyết định độ bền

Một chiếc rổ, chiếc giỏ có bền hay không phụ thuộc rất nhiều vào phần vành. Vành là chỗ chịu lực khi cầm, khi va đập và là chỗ các đầu nan kết thúc. Nếu vành yếu, đầu nan sẽ bung ra, đồ đan nhanh hỏng.

Cạp vành là công đoạn đặt một hoặc hai thanh tre, mây uốn tròn ôm quanh miệng đồ, kẹp các đầu nan ở giữa. Nức là dùng sợi mây hoặc nan mảnh quấn, buộc chặt vành với thân đồ theo một nhịp đều. Đường nức đẹp là đường đều khoảng cách, chặt tay, không lộ đầu sợi.

Ở các sản phẩm tinh của Phú Vinh, đường nức còn là chỗ trang trí. Người thợ có thể nức theo kiểu chéo, kiểu chữ nhân, hoặc kết hợp màu sợi. Nhìn đường nức, người trong nghề có thể đoán được sản phẩm của ai, của làng nào.

Phần đáy cũng được gia cố tương tự. Với đồ to như thúng, sọt, nhiều nơi đan thêm lớp đáy kép hoặc đặt thanh tre chéo để chịu sức nặng.

Mỗi vùng một dáng đồ đan

Đồng bằng Bắc Bộ. Đồ đan gắn với cây lúa và bếp núc: nong, nia, mẹt phơi thóc, sàng sảy gạo, rổ rá, thúng gánh. Nan tre, giang là chính, dáng đồ phẳng, rộng, cần chắc để chịu được việc phơi phóng hằng ngày.

Vùng sông nước. Ở những vùng nhiều kênh rạch, đồ đan gắn với nghề cá: nơm, đó, lờ, giỏ đựng cá, cùng những đồ đan từ lục bình, bèo. Dáng đồ thuôn, thoáng để nước chảy qua.

Miền núi. Người các dân tộc miền núi đan gùi đeo lưng, ống đựng, giỏ lên nương, mâm mây. Gùi là món đồ tiêu biểu, có nhiều kiểu tuỳ dân tộc và tuỳ việc: gùi đi rẫy, gùi đựng nước, gùi đi chợ. Kỹ thuật đan gùi có những nét rất riêng mà các làng đồng bằng không có.

Ven biển. Ven biển có đồ đan từ cói, từ lá, dùng làm buồm, làm thúng chai đi biển ở một số vùng, làm bao đựng hải sản. Thúng chai là thúng đan tre được trét kín cho nổi trên nước, một sáng tạo của người miền biển.

Đô thị hôm nay. Ở thành phố, đồ đan xuất hiện dưới dạng đèn, giỏ trang trí, hộp đựng, đồ nội thất. Dáng đồ thay đổi theo thiết kế, nhưng các kiểu đan cơ bản vẫn là những kiểu đã có từ nhiều đời.

Phú Vinh: làng đan mây sợi mảnh

Phú Vinh ở vùng Chương Mỹ cũ, phía tây Hà Nội, là làng được nhắc nhiều khi nói về đan mây tinh xảo ở miền Bắc. Người làng nổi tiếng với những sản phẩm đan bằng sợi mây vót rất mảnh, đan khít, hoa văn phức tạp. Có những sản phẩm đan bằng sợi mảnh tới mức nhìn từ xa trông như vải dệt.

Làng có truyền thuyết về người truyền nghề đan, được dân làng tưởng nhớ. Các bản kể khác nhau về chi tiết nên bài không nêu. Điều chắc chắn là nghề đan ở đây đã được truyền qua nhiều đời, và trẻ em trong làng xưa thường biết đan từ nhỏ, vừa học vừa giúp gia đình.

Sản phẩm của làng trải từ đồ gia dụng như rổ, rá, giỏ, khay tới đồ mỹ nghệ như tranh đan, bình, hộp và đồ nội thất. Trong những giai đoạn đồ mây tre được ưa chuộng ở thị trường xa, làng rất sôi động. Khi đồ nhựa và đồ công nghiệp chiếm chỗ trong đời sống hằng ngày, nghề đan phải chuyển hướng sang đồ trang trí, quà tặng, đồ nội thất mang phong cách tự nhiên.

Thách thức lớn là nguồn mây ngày càng khó, giá nguyên liệu biến động, và người trẻ ít mặn mà với công việc cần ngồi lâu, mỏi mắt. Những người thợ giỏi đan sợi mảnh phần lớn đã lớn tuổi. Việc giữ được tay nghề đan tinh vì thế là câu hỏi quan trọng hơn chuyện số lượng sản phẩm.

Đồ đan trong đời sống và chuyện giữ nghề

Có một thời, gần như mọi đồ đựng trong nhà nông đều là đồ đan: rổ rửa rau, rá vo gạo, nong nia phơi thóc, thúng gánh hàng, sọt chở đất, giỏ đi chợ, nơm bắt cá. Đồ đan gắn với mọi hoạt động từ bếp núc, đồng áng tới chợ búa. Sự phổ biến ấy khiến nghề đan có mặt ở rất nhiều làng, không chỉ làng chuyên nghề.

Ngày nay, nhiều món trong số đó đã nhường chỗ cho đồ nhựa, đồ kim loại. Đồ đan trở lại với vai trò khác: đồ trang trí, đèn, hộp đựng, đồ nội thất, đồ dùng thân thiện môi trường. Người tiêu dùng thành phố quan tâm hơn tới đồ làm từ vật liệu tự nhiên, mở thêm cơ hội cho các làng đan.

Giữ nghề đan không chỉ là giữ kỹ thuật, mà còn là giữ hiểu biết về rừng, về tre, về mây. Khi nguồn nguyên liệu tự nhiên không được trồng và khai thác hợp lý, nghề sẽ cạn từ gốc. Một số địa phương đã khuyến khích trồng tre, trồng mây để có nguồn nguyên liệu ổn định.

Nếu bạn có dịp ngồi bên người thợ đan, bạn sẽ thấy những ngón tay di chuyển rất nhanh mà vẫn chính xác, nan luồn qua nan như thoi đưa. Đó là kết quả của hàng nghìn giờ lặp lại, thứ kỹ năng không có lối tắt.

Câu hỏi thường gặp

Làng mây tre đan Phú Vinh ở đâu?

Làng Phú Vinh nằm ở vùng Chương Mỹ cũ, phía tây Hà Nội. Làng được biết đến với nghề đan mây tinh xảo, đặc biệt là những sản phẩm đan bằng sợi mây vót rất mảnh, đan khít, có hoa văn phức tạp, bên cạnh đồ đan tre và giang.

Đan lóng mốt là gì?

Đan lóng mốt là kiểu đan đơn giản nhất: nan ngang lần lượt đi trên một nan dọc rồi dưới một nan dọc, xen kẽ đều. Kiểu này cho mặt đan phẳng, chắc, thường dùng cho đáy rổ, mặt nong, nia và những đồ cần chịu lực.

Vì sao phải vót nan cho đều?

Nan và sợi đều nhau thì khi đan mặt đồ mới phẳng, khít và đẹp. Nan dày mỏng không đều sẽ tạo chỗ khít chỗ hở, mặt đồ lồi lõm và kém bền. Vì thế việc vót nan thường được giao cho người khéo tay và kiên nhẫn.

Mây khác tre thế nào trong nghề đan?

Tre cứng, chẻ được nan to khoẻ cho đồ chịu lực. Mây là dây leo rừng, thân dài, dẻo dai, vót được sợi tròn mảnh đều, hợp với đồ đan tinh và đồ nội thất. Nhiều sản phẩm kết hợp cả hai: khung tre và phần đan bằng mây.

Cạp vành và nức trong đồ đan là gì?

Cạp vành là đặt thanh tre hoặc mây uốn tròn ôm quanh miệng đồ, kẹp các đầu nan. Nức là dùng sợi mây hoặc nan mảnh quấn buộc vành vào thân. Đây là phần chịu lực nhiều nhất và quyết định độ bền của đồ đan.

Xử lý chống mốc cho nan tre có nguy hiểm không?

Một số cách xử lý chống mốc mọt như hun bằng hoá chất sinh khí độc, nên chỉ được làm ở xưởng có thông gió và người có kinh nghiệm. Các cách đơn giản hơn như luộc, ngâm, phơi kỹ an toàn hơn. Người ngoài nghề không nên tự hun nan tại nhà.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183